Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2023/HS-ST

Ngày 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu và bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023 đối với:

Bị cáo: Vũ Đình L; sinh ngày 02/5/1963. Tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Hưu trí. Là Đảng viên Đ, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 41 ngày 07/02/2023 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy K1, tỉnh Thái Bình.Con ông Vũ Ngọc B và bà Đỗ Thị C (đã chết). Vợ: Ngô Thị B1 (đã ly hôn). Có 01 con sinh năm 1992.

Tiền án; tiền sự: không.

Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 10/10. Từ năm 1985 đến năm 2011 công tác tại Đại đội 545, tiểu đoàn 351, vùng 3 Hải quân tại thành phố Đà Nẵng, sau đó xuất ngũ về địa phương. Được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba và Huy chương Quân kỳ chiến thắng

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2023, đến ngày 07/02/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo L: Luật sư Phạm Hữu G - Văn phòng luật sư Phạm Hữu L1 và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh T.

Địa chỉ: Số C, đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

- Bị hại: Ông Vũ Minh C1, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Bà Đào Thị P, sinh năm 1974; (có mặt)
  2. Anh Vũ Minh K, sinh năm 1997; (có mặt)

Đều ở địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  1. Chị Đào Thị D, sinh năm 1993; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã B, K, tỉnh Thái Bình.

  1. Ông Vũ Xuân H, sinh năm 1967; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện K,tỉnh Thái Bình.

  1. Bà Vũ Thị D1, sinh năm 1971; (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  1. Ông Vũ Văn N, sinh năm 1947; (có mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Đình L là anh trai của ông Vũ Minh C1, sinh năm 1973, trú tại thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Nhà L ở cạnh nhà ông C1 và cạnh nhà thờ dòng họ V. Chiều ngày 28/01/2023, dòng họ V tổ chức họp bàn về việc bức Đại tự của dòng họ treo tại nhà thờ bị thất lạc không rõ lý do, tại cuộc họp có sự tham gia của L và ông C1. Những người trong dòng họ nghi ngờ L đã bán bức Đại tự nên tra hỏi, do bị tra hỏi nhiều nên Lục tự nhận đã đốt bức đại tự. L cho rằng ông C1 là người nói với mọi người việc L lấy bức Đại tự nên bực tức trong lòng. Khoảng 06 giờ ngày 29/01/2023, L đang đứng ở sân trước nhà thì thấy ông C1 đi ra sân nhà ông C1, gần cổng ra vào. Lục đi sang gặp ông C1 nói tối hôm qua Lục mất ngủ vì việc mất bức Đại tự, ông C1 nói: “ông có bán hay đốt thì khai thật đi, chiều nay lại họp tiếp, ông còn gian dối là họ sẽ làm đơn gửi Công an“. Lục bực tức đi về khu vực cầu ao trước cửa nhà tìm đồ vật để đánh ông C1. Thấy tại gốc cây si có một con dao (dạng dao bầu dài 27cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 15,5 cm, mũi dao nhọn, bản dao rộng nhất là 5,5cm), L cầm dao bằng tay phải dấu ra phía sau lưng rồi đi đến cách ông C1 khoảng 01 mét, nói: “chính mày dựng lên việc tao bán bức Đại tự để đưa tao đi tù”. Lục tiến về phía ông C1, đứng đối diện dùng dao đâm một nhát từ sau về trước trúng vào vùng bụng bên phải ông C1. Khi L rút dao ra khỏi người ông C1, ông C1 dùng hai tay cầm giữ bàn tay phải của L và bị ngã nằm ngửa xuống sân. Lục đứng ở tư thế khom người, tay trái ấn vào bụng ông C1, tay phải cầm dao giằng co với ông C1, đâm dao về phía mặt ông C1. Ông C1 hai tay giữ bàn tay phải của L, lắc đầu về hai bến tránh mũi dao nhưng vẫn bị 02 nhát dao sượt qua mắt trái và má trái. Ông C1 hô hoán kêu cứu thì bà Đào Thị P sinh năm 1974 (vợ ông C1) và anh Vũ Minh K, sinh năm 1997 (con trai ông C1) từ trong nhà chạy ra can ngăn, anh K đẩy L ra làm con dao rơi xuống sân gần vị trí ông C1 nằm. Bà P nhặt con dao chạy sang nhà anh Vũ Xuân Hậu s năm 1967 (là hàng xóm), để dao tại gốc cây trong sân. Ông C1 ôm bụng đứng dậy đi theo phía sau và ngã nằm ngay tại sân nhà anh H. Sợ bị K đánh, L chạy về nhà lấy 02 chiếc phi tiêu tự chế gần khu vực bếp (đặc điểm

làm bằng kim loại hình vuông, một chiếc cạnh dài 7,5cm và một chiếc cạnh dài 10cm, ở giữa khoét lỗ tròn, tại bốn đỉnh chế thành 04 mũi nhọn, mỗi mũi nhọn dài 04cm do L tự làm để ném chuột) rồi quay ra sân đứng cách anh K khoảng 05m ném 02 phi tiêu về phía anh K. Phi tiêu thứ nhất không trúng, phi tiêu thứ 02 trượt xước qua đỉnh đầu anh K, anh K bỏ chạy ra ngoài ngõ thì L không đuổi theo mà đi vào nhà.

Hậu quả: Ông C1 được sơ cứu khâu cầm máu tại chỗ sau đó đưa đi cấp cứu. Ông C1 bị tổn thương làm rách da, tổ chức dưới da vùng mặt, thấu bụng thủng đại tràng ngang, làm đứt gần hoàn toàn phân thùy 6 gan phải nhưng do được gia đình đưa đi cấp cứu, điều trị kịp thời, không ảnh hưởng đến tính mạng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 64%. Anh K đến khám tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T, xác định trượt xước nhẹ ngoài da trên đỉnh đầu, có đơn từ chối giám định thương tích.

Cáo trạng số 69/CT-VKSTB ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Vũ Đình L về tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo trình bày đã nhận ra lỗi của mình, bị cáo rất ăn năn hối cải và bị cáo nhất trí tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền 214 triệu đồng như yêu cầu của bị hại, bị cáo đã tác động đến gia đình nộp số tiền 150 triệu đồng để bồi thường, số tiền còn lại bị cáo sẽ tiếp tục khắc phục trong thời gian tới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình L phạm tội “Giết người”; đề nghị áp dụng điểm quy định tại khoản 2 Điều 123; Điều 50; Điều 54; Điều 57; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đình L mức án từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo và bị hại. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền còn thiếu.

Người bào chữa cho bị cáo L - Luật sư Phạm Hữu G trong phần tranh luận đã nhất trí về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo là nhất thời, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự

Bị hại đồng ý với sự tự nguyện bồi thường của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

Bị cáo Vũ Đình L không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với bị cáo và tiến hành các thủ tục tố tụng khác trong vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ lời khai của bị cáo Vũ Đình L; Lời khai của bị hại ông Vũ Minh C1; Lời khai của những người làm chứng gồm bà Đào Thị P1, anh Vũ Minh K, Chị Đào Thị D, ông Vũ Xuân H, bà Vũ Thị D1, ông Vũ Văn N; Căn cứ bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập hồi 10 giờ ngày 29/01/2023. Thu mẫu máu tại nền sân nhà ông C1 (ký hiệu M1), mẫu máu thu tại phòng khách nhà ông C1 (ký hiệu M2); Kết luận giám định số 651 ngày 28/02/2023 của V1 Bộ C2 kết luận: Trên con dao gửi giám định có bám dính máu người và là máu của Vũ Minh C1. Mẫu ghi thu tại nền sân (ký hiệu M1) là máu người và là máu của Vũ Minh C1; Biên bản quản lý, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ: 01 con dao dạng dao bầu dài 27cm, 02 phi tiêu tự chế; Các tài liệu liên quan đến thương tích của người bị hại Vũ Minh C1 như: Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với Vũ Đình L ngày 29/01/2023 tại bệnh viện đa khoa huyện K; Giấy chứng nhận thương tích ban đầu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T đối với bị hại Vũ Minh C1; Bệnh án tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T, bệnh việt V2 đối với bị hại Vũ Minh C1; Bản kết luận giám định số 18 ngày 01/02/2023 của Trung tâm P2; Bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 364 ngày 28/8/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Xuất phát từ mâu thuẫn khi bị ông Vũ Minh C1 nghi ngờ và nói mình đã bán bức đại tự của dòng họ nên vào khoảng 06 giờ ngày 29/01/2023, bị cáo đã cầm dao bầu đâm một nhát từ sau về trước trúng vào vùng bụng bên phải của ông C1, sau đó hai bên giằng co làm mũi dao sượt qua mắt trái và má trái của ông C1. Hậu quả ông C1 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 64%. Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Đình L đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định như sau:

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

  1. Giết 02 người trở lên;
  2. Giết người dưới 16 tuổi;
  3. Giết phụ nữ mà biết là có thai;
  4. Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
  5. Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
  6. Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
  7. Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
  8. Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
  9. Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
  10. Thuê giết người hoặc giết người thuê;
  11. Có tính chất côn đồ;
  12. Có tổ chức;
  13. Tái phạm nguy hiểm;
  14. Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Đình L là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của ông Vũ Minh C1. Nguyễn nhân của sự việc xuất phát từ mâu thuẫn hàng ngày trong gia đình, bị cáo không tìm giải pháp hòa giải mà dùng hung khí đánh ông C1. Bị cáo nhận thức được việc dùng dao đâm vào bụng của ông C1 là vùng trọng yếu trên cơ thể con người, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của ông C1 nhưng vẫn thực hiện hành vi. Việc ông C1 không chết là do được gia đình đưa đi cấp cứu, điều trị kịp thời nhưng vẫn còn thiệt hại về sức khỏe, dẫn đến hậu quả làm ông C1 bị tổn thương cơ thể 64%. Hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang lo sợ đối với quần chúng nhân dân nơi xảy ra sự việc. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Vũ Đình L tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Cần cách ly bị cáo Vũ Đình L ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo tự nguyện bồi thường tổng số tiền 214 triệu đồng theo yêu cầu của bị hại, bị cáo đã tác động đến gia đình nộp số tiền 150 triệu đồng để bồi thường nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51; Trong quá trình bị cáo công tác tại Quân đội được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba và Huy chương Quân kỳ chiến thắng, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” theo quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có thời gian dài phục vụ trong Q nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên áp dụng hình phạt theo quy định tại Điều 57 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, ông Vũ Minh C1 yêu cầu bị cáo Vũ Đình L bồi thường tổng số tiền 214 triệu đồng gồm tiền chi phí cứu chữa, ngày công lao động bị mất và bồi thường tổn thất về tinh thần. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 214 triệu đồng theo yêu cầu của bị hại, bị cáo đã tác động đến gia đình nộp số tiền bồi thường 150 triệu đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ngày 28/11/2023. Do vậy, cần buộc bị cáo còn phải tiếp tục bổi thường cho bị hại số tiền 64 triệu đồng

[5] Về các nội dung khác liên quan đến vụ án

- Ngoài hành vi đâm ông Vũ Minh C1, bị cáo Vũ Đình L còn có hành vi dùng phi tiêu tự chế làm bằng kim loại ném gây trượt xước da đầu anh Vũ Minh K. Anh K từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý, bồi thường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T có văn bản đề nghị Công an huyện K xử lý vi phạm hành chính.

- Đối với sự việc nhà thờ dòng họ V bị mất bức Đại tự, kết quả điều tra không có căn cứ xác định L đã lấy hay hủy hoại bức Đại tự trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Thái Bình chuyển thông tin, đề nghị Công an huyện K xác minh, giải quyết theo quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý: 01 con dao và phần còn lại sau giám định của mẫu M1 được gói kín trong hộp bìa, có hình dấu của V1 bộ C2; 01 (một) phong bì có ghi “Mẫu máu thu trong nhà Vũ Minh C1 (M2)”; 01(một) miếng kim loại có dạng hình vuông cạnh 7,5cm ở giữa khoét lỗ tròn, thủng đường kính 5cm tại 4 đỉnh của hình vuông chế thành 4 mũi nhọn, mỗi mũi nhọn dài 4cm, tại mỗi mặt của mũi nhọn có ngạnh; 01 miếng kim loại có dạng hình vuông cạnh 10cm ở giữa khoét lỗ tròn, thủng đường kính 6,5cm tại 4 đỉnh của hình vuông chế thành 4 mũi nhọn, mỗi mũi nhọn dài 4cm tại mỗi mặt của mũi nhọn có ngạnh là những vật không có giá trị, cần tiêu hủy.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình L phạm tội “Giết người”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 điều 123; các điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50, 54, 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đình L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho ông Vũ Minh C1 tổng số tiền 214 (hai trăm mười bốn) triệu đồng. Bị cáo đã tác động đến gia đình nộp số tiền bồi thường 150 (một trăm năm mươi) triệu đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ngày 28/11/2023. Bị cáo Vũ Đình L còn phải bồi thường số tiền 64.000.000 (sáu tư triệu) đồng cho ông Vũ Minh C1
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Vũ Đình L phải chịu 300.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 3.200.000 (ba triệu hai trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/11/2023.

Nơi nhận:

- TAND Cấp cao tại Hà Nội;

VKSND Cấp cao tại Hà Nội;

- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Thái Bình;

- Cục Thi hành án hình sự tỉnh Thái Bình

- VKSND tỉnh Thái Bình;

- Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;

- Công an tỉnh Thái Bình;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Duy Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tội giết người

  • Số bản án: 87/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Vũ Đinh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger