Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 81/2023/HS-ST

Ngày 07/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân

Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền và bà Nguyễn Thị Thêu

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét số 79/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 đối với:

Bị cáo Đinh Văn K, sinh năm 1964

Nơi cư trú: Số nhà A, đường N, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Bác sỹ (nguyên Phó giám đốc Trung tâm Pháp y tỉnh T; Trưởng khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Đ1; trình độ học vấn: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên bố: Đinh Văn Q, sinh năm 1929; họ tên mẹ: Phạm Thị H, sinh năm 1930; Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ là: Nguyễn Thị T, sinh năm 1973; có 02 con, con lớn sinh năm 1997; con nhỏ sinh năm 2000;

Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 10/10. Từ năm 1980 đến năm 1986 tham gia nghĩa vụ quân sự. Từ năm 1986 đến năm 1995 học tại trường Đại học Y. Từ năm 1995 đến khi bị bắt công tác tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ1. Năm 2018, Sở Y tế bổ nhiệm làm Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm P. Ngày 06/5/2019, được giao phụ trách Trung tâm Pháp y tỉnh T. Là Đảng viên Đ2, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 31-QĐ/UBKTĐUK ngày 24/3/2023 của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy khối các Cơ quan tỉnh Thái Bình. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo K: Ông Trần Văn T1 - Luật sư – Công ty L; Địa chỉ: Số B, Lô T, Khu đô thị H - H, phường M, quận N, thành phố Hà Nội (có mặt).

Bị hại:

  1. Trung tâm Pháp y Thái Bình

Địa chỉ: 284, đường T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Thiên T2 – Chức vụ: Phó giám đốc phụ trách Trung tâm P. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn N – Chủ tịch công đoàn (có mặt).

  1. Anh Trần Ngọc Q1, sinh năm 1988

Địa chỉ: Số nhà A, đường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Chị Trần Thị Minh T3, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có đơn xin vắng mặt)

  1. Chị Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Số nhà E, ngõ B phố Đ, tổ F, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình ( có đơn xin vắng mặt).

  1. Anh Phạm Văn C, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà B, tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

  1. Anh Vũ Văn T4, sinh năm 1985

Địa chỉ: Số nhà A, ngõ B phố T, tổ C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

  1. Anh Vũ Đình D, sinh năm 1992

Địa chỉ: Số nhà A, ngõ C, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số nhà A, đường N, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đinh Văn K là Phó giám đốc Trung tâm Pháp y tỉnh T (gọi tắt là Trung tâm P) được phân công phụ trách và là Chủ tài khoản của Trung tâm P. Từ năm 2020 đến năm 2021, K đã chỉ đạo cán bộ cấp dưới lập khống chứng từ thanh quyết toán tiền đi công tác tại thành phố Đà Nẵng và chỉ đạo anh Trần Ngọc Q1 chuyển số tiền bồi dưỡng giám định của anh Q1 đã được Trung tâm Pháp y chi trả theo Thông tư số 31/2015/TT-BYT ngày 14/10/2015 của Bộ Y1 cho K để chiếm đoạt, cụ thể:

1.Hành vi lập khống chứng từ thanh quyết toán tiền đi công tác Đà Nẵng, chiếm đoạt 9.800.000 đồng.

Ngày 05/4/2021, Hội P thuộc T8 ban hành giấy mời số 11/GM-HPY gửi các đơn vị pháp y trong toàn quốc tham dự Đại hội đại biểu T9 khóa IV, nhiệm kỳ 2021-2025 và Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành pháp y (gọi chung là Hội nghị); mời mỗi đơn vị 03 đại biểu, thời gian 02 ngày từ 15/4 đến ngày 16/4/2021, địa điểm tại Khách sạn M, số I N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Kinh phí đi lại, ăn ở do cơ quan cử đại biểu đi dự thanh toán. Khi nhận được giấy mời, Đinh Văn K không triển khai trong đơn vị và không cử cán bộ tham dự. Ngày

14/4/2021, Đinh Văn K đi máy bay cùng vợ và con gái vào thành phố Đà Nẵng, thuê 01 phòng tại khách sạn M để nghỉ. Khi đi bị cáo Đinh Văn K đem theo 03 Giấy đi đường để nhằm mục đích đến nơi lưu trú đóng dấu xác nhận, làm chứng từ thanh toán. Từ ngày 15/4/2021 đến ngày 16/4/2021, Đinh Văn K tham dự Hội nghị và ở tại khách sạn M, thành phố Đà Nẵng. Kết thúc hội nghị, Đinh Văn K xin dấu xác nhận lưu trú của khách sạn M trên 03 Giấy đi đường.

Ngày 18/10/2021, Đinh Văn K chuyển toàn bộ giấy tờ thanh toán dự Hội nghị cho chị Nguyễn Thị Quỳnh A – Kế toán trưởng, gồm: Giấy mời số 11/GM-HPY ngày 05/4/2021 của Hội P; 03 Giấy đi đường của T5 tâm pháp y chưa ghi nội dung nhưng có đóng dấu xác nhận lưu trú của Khách sạn M; 06 vé ô tô chiều đi, chiều đến là “Thái Bình – Đà Nẵng” và ngược lại của Công ty trách nhiệm hữu hạn V; Chứng từ thu 1.500.000 đồng của Hội P. Đinh Văn K thông báo cho chị Nguyễn Thị Quỳnh A biết K đã đi dự Hội nghị theo nội dung giấy mời và đồng thời chỉ đạo chị Nguyễn Thị Quỳnh A và chị Trần Thị Minh T3 phối hợp làm thủ tục thanh toán tiền đi công tác Đà Nẵng. Khi nhận giấy tờ, chị Nguyễn Thị Quỳnh A hỏi Đinh Văn K đưa tên người nào để thanh toán thì Đinh Văn K trả lời làm thủ tục thanh toán cho 03 người, gồm: Đinh Văn K, anh Trần Ngọc Q1 và chị Trần Thị Minh T3, thời gian đi công tác từ ngày 14/4/2021 đến hết ngày 20/4/2021. Mặc dù anh Trần Ngọc Q1 và chị Trần Thị Minh T3 không đi dự Hội nghị nhưng theo chỉ đạo của Đinh Văn K, chị Nguyễn Thị Quỳnh A trực tiếp soạn thảo Quyết định số 16/QĐ-TTPY và ghi này 08/4/2021 về việc cử cán bộ công nhân viên chức đi công tác đối với 03 người: Đinh Văn K, anh Trần Ngọc Q1 và chị Trần Thị Minh T3 và điền nội dung vào 03 giấy đi đường còn để trống; chị Trần Thị Minh T3 ký tên mình vào giấy đi đường và điền ngày, giờ vào 06 vé xe ô tô chiều đi, chiều đến là “T - Đà Nẵng” và ngược lại của Công ty TNHH V; anh Trần Ngọc Q1 không ký giấy đi đường.

Sau khi hoàn tất thủ tục thanh toán, chị Nguyễn Thị Quỳnh A lập giấy rút dự toán ngân sách Nhà nước kèm theo danh sách chuyển tiền vào tài khoản số [...] của Đinh Văn K 6.700.000 đồng; tài khoản số [...] của anh Trần Ngọc Q1 4.900.000 đồng; tài khoản số [...] của chị Trần Thị Minh T3 4.900.000 đồng và đưa Đinh Văn K ký vào phần Thủ trưởng đơn vị, Nguyễn Thị Quỳnh A ký vào phần kế toán trưởng, đề nghị Kho bạc Nhà nước tỉnh T thanh toán. Ngày 27/10/2021, Kho bạc Nhà nước tỉnh T chi 16.500.000 đồng. Khi thấy trong tài khoản của mình có 4.900.000 đồng, anh Q1 hỏi chị Quỳnh A về khoản tiền này thì được chị Quỳnh A cho biết đây là tiền đi công tác. Khoảng 09 giờ ngày 01/11/2021, tại khoa giải phẫu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ1, anh Q1 vào phòng của K hỏi về số tiền 4.900.000 đồng được Trung tâm P chuyển đến tài khoản của mình là tiền gì, Đinh Văn K nói: “Số tiền 4.900.000 đồng là tiền đi công tác, cháu không đi công tác thì chuyển lại cho bác”. Thấy Đinh Văn K nói vậy, anh Q1 đồng ý và Đinh Văn K đã đọc số tài khoản của mình cho Q1, anh Q1 lấy máy điện thoại và chuyển 4.900.000 đồng vào số tài khoản của Đinh Văn K,

ghi nội dung chuyển khoản “Chau Quyêt gui Bac”. Trong thời gian này, tại phòng làm việc của chị T3, Đinh Văn K nói: “ T3 chuyển lại tiền đi công tác Đà Nẵng cho bác nhé”. Thấy Đinh Văn K nói vậy, chị T3 bảo giờ cháu chuyển tiền cho bác thì bác ký nhận giúp cháu, K không nói gì và đi ra ngoài. Sau đó, Đinh Văn K nhiều lần giục chị Quỳnh A yêu cầu chị T3 chuyển lại tiền cho K nhưng chị T3 vẫn yêu cầu nếu chuyển tiền thì Đinh Văn K phải ký nhận. Do K không ký nên chị T3 chưa chuyển tiền, chị T3 định nộp lại tiền cho Trung tâm pháp y nhưng chị Quỳnh A không thu. Đến ngày 29/12/2022 chị T3 nộp lại 4.900.000 đồng cho Cơ quan điều tra.

2. Hành vi Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt 93.880.000 đồng tiền bồi dưỡng giám định của anh Trần Ngọc Q1

Anh Trần Ngọc Q1 là Bác sỹ tại Khoa giải phẫu thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ1, kiêm Giám định viên pháp y của Trung tâm Pháp y được phân công tham gia giám định pháp y về thương tích, giám định theo vụ việc của Trung tâm P và được thanh toán chế độ bồi dưỡng cho Giám định viên theo thông tư số Thông tư số 31/2015/TT-BYT ngày 14/10/2015 của Bộ Y1. Quý 3, Q2 4 năm 2020 và 2021, anh Trần Ngọc Q1 đã giám định tổng số 498 ca x 200.000 đồng /ca = 99.600.000 đồng, cụ thể:

  • Quý 3 năm 2020 giám định 89 ca được chi trả 17.800.000 đồng
  • Quý 4 năm 2020 giám định 54 ca được chi trả 10.800.000 đồng
  • Từ ngày 21/01/2021 đến ngày 31/01/2023 giám định 43 ca được chi trả 8.600.000 đồng
  • Tháng 2, tháng 3 năm 2021 giám định 49 ca được chi trả 9.800.000 đồng
  • Quý 2 năm 2021 giám định 75 ca được chi trả 15.000.000 đồng
  • Quý 3 năm 2021 giám định 99 ca được chi trả 19.800.000 đồng
  • Quý 4 năm 2021 giám định 89 ca được chi trả 17.800.000 đồng

Quý 3, Q2 4 năm 2020, anh Q1 được Trung tâm Pháp y thanh toán tiền bồi dưỡng giám định y khoa qua Kho bạc Nhà nước tỉnh T chuyển đến tài khoản 101873974587 của anh Trần Ngọc Q1. Sau khi anh Q1 nhận được tiền, Đinh Văn K gọi anh Q1 vào phòng làm việc của mình tại khoa Giải phẫu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ1 nói : Cháu chỉ là Giám định viên kiêm nhiệm, không biên chế bên Trung tâm Pháp y thì khoản tiền bồi dưỡng Giám định viên Trung tâm Pháp y chi trả cho cháu, cháu trả lại cho Trung tâm Pháp y qua chị Nguyễn Thị Quỳnh A. Do anh Q1 không nắm đầy đủ quy định về bồi dưỡng cho Giám định viên kiêm nhiệm nên đồng ý chuyển tiền trả lại. Từ tháng 01/2021 đến 31/12/2021, anh Q1 đã 07 lần chuyển tiền cho chị Nguyễn Thị Quỳnh A tổng 99.600.000 đồng, trong đó: 01 lần chuyển tiền mặt 3.800.000 đồng và 06 lần chuyển khoản tổng 95.800.000 đồng (ngày 08/01/2021 chuyển 28.600.000 đồng, ngày 22/4/2021 chuyển 8.600.000 đồng, ngày 31/8/2021 chuyển 6.000.000 đồng, ngày 01/10/2021 chuyển 10.000.000 đồng, ngày 28/12/2021 chuyển 19.800.000 đồng, ngày 31/12/2021 chuyển 22.800.000 đồng). Năm 2021, sau khi nhận được tiền từ anh

Q1, chị Nguyễn Thị Quỳnh A trích lại 10% được 5.720.000 đồng để liên hoan chung. Số còn lại 93.880.000 đồng, chị Nguyễn Thị Quỳnh A chuyển cho Đinh Văn K (theo yêu cầu của K), trong đó: ngày 22/4/2021 chuyển tiền mặt 6.880.000 đồng và 05 lần chuyển vào tài khoản số [...] của Đinh Văn K mở tại Ngân hàng TMCP C1 87.000.000 đồng (ngày 08/01/2021 chuyển 22.880.000 đồng, ngày 31/8/2021 chuyển 7.840.000 đồng, ngày 28/12/2021 chuyển 19.800.000 đồng, ngày 31/12/2021 chuyển 22.280.000 đồng, ngày 16/8/2022 chuyển 14.200.000 đồng).

Bản cáo trạng số 60/CT-VKSTB ngày 11/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Đinh Văn K về tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 và tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 355 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo trình bày đã nhận ra lỗi của mình, đã tác động gia đình nộp 98.780.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn K phạm tội “Tham ô tài sản” và “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 353, khoản 1 Điều 355 ; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “ Tham ô tài sản” và xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt, xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ quản lý từ 01 đến 02 năm

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự vì bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị hại đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện của Trung tâm pháp y tỉnh T và anh Trần Ngọc Q1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị cáo Đinh Văn K không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì bị cáo tuổi cao, sức khỏe yếu, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đã nộp lại một phần số tiền thu lợi bất chính, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với bị cáo và tiến hành các thủ tục tố tụng khác trong vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ lời khai của bị cáo Đinh Văn K và Đ tố cáo; lời khai của anh Trần Ngọc Q1; Biên bản làm việc do Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh T lập hồi 8 giờ 30 ngày 25/11/2022 tại Trung tâm P; Biên bản làm việc do Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh T lập hồi 16 giờ ngày 23/3/2023 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh T; Sao kê số tài khoản 101004303767 của Đinh Văn K mở tại Ngân hàng TMCP C1; Sao kê số tài khoản 108004610809 của Nguyễn Thị Quỳnh A mở tại ngân hàng TMCP C1 phù hợp với các lần nhận được tiền của anh Q1 và chị Quỳnh A chuyển tiền bồi dưỡng cho Đinh Văn K; Sao kê số tài khoản 103005471048 của Trần Ngọc Q1 mở tại Ngân hàng TMCP C1; Sao kê số tài khoản 101005038359 của Trần Thị Minh T3 mở tại Ngân hàng TMCP C1; Các tài liệu gốc là chứng từ liên quan đến thanh toán tiền cán bộ công nhân viên chức Trung tâm P; Các chứng từ thanh toán gồm: Ủy nhiệm chi, B thanh toán tiền chế độ bồi dưỡng cho giám định viên và người giúp việc thực hiện giám định pháp y theo vụ việc từ năm 2020, năm 2021 của Trung tâm P; Biên bản làm việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 16 giờ 15 phút ngày 04/8/2023 tại Trung tâm P; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng là: chị Trần Thị Minh T3, anh Phạm Văn C, anh Vũ Văn T4, anh Vũ Đình D, chị Nguyễn Thị Quỳnh A; Biên bản ghi lời khai của chị Nguyễn Thị H1; chị Tô Thị Khánh Q3, bà Nguyễn Thị T cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Năm 2021, mặc dù không cử cán bộ tham dự Đại hội đại biểu T9 khóa IV nhiệm kỳ 2021-2025 và Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành pháp y do Hội P tổ chức tại thành phố Đà Nẵng, Đinh Văn K là Phó giám đốc phụ trách và là chủ tài khoản Trung tâm Pháp y tỉnh T đã chỉ đạo cấp dưới là chị Nguyễn Thị Quỳnh A – Kế toán trưởng; chị Trần Thị Minh T3 – Điều dưỡng viên lập khống chứng từ thanh quyết toán tiền thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, lưu trú mang tên anh Trần Ngọc Q1, chị Trần Thị Minh T3 là cán bộ Trung tâm P chiếm đoạt 9.800.000 đồng. Từ quý III năm 2020 đến hết quý IV năm 2021, Đinh Văn K lạm dụng chức vụ quyền hạn của mình yêu cầu anh Trần Ngọc Q1 là Giám định viên Trung tâm pháp y phải chuyển lại toàn bộ số tiền bồi dưỡng cho Giám định viên đã được Trung tâm P thanh toán cho Trung tâm P vào số tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thị Quỳnh A, sau đó K yêu cầu chị Nguyễn Thị Quỳnh A chuyển 93.880.000 đồng cho mình rồi chiếm đoạt. Căn cứ quy định tại Điều 2, Điều 3 Luật phòng chống tham nhũng; Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một

số quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm tham nhũng và các tội phạm khác về chức vụ, hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 và “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 355 Bộ luật Hình sự.

Điều 353: Tội tham ô tài sản

“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
  • Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

...

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.”

Điều 355: Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

“1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

...

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà Nước 9.800.000 đồng; xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã chiếm đoạt của anh Trần Ngọc Q1 số tiền 93.880.000 đồng. Do đó cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình nộp 98.780.000 đồng để khắc phục hậu quả, quá trình công tác bị cáo được tặng nhiều giấy khen; có thời gian tham gia quân đội được tặng bằng khen, tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba; bị cáo có bố đẻ là thương binh và được tặng huân chương chiến công hạng nhất, tại phiên tòa các

bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phạm nhiều tội với mục đích thu lời bất chính, gây thiệt hại về tài sản cho Nhà nước và của người khác, do đó không có căn cứ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất dưới khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật Hình sự như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa. Bị cáo đã từng giữ chức vụ quản lý nhưng lại phạm tội, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ có thời hạn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Đối với Nguyễn Thị Quỳnh A – Kế toán trưởng; Trần Thị Minh T3 – Điều dưỡng viên, xét thấy hành vi của Nguyễn Thị Quỳnh A và Trần Thị Minh T3 có vai trò giúp sức cho bị cáo K để hoàn thiện thủ tục thanh quyết toán đi Đà Nẵng gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước 9.800.000 đồng nhưng xét thấy những người này là cấp dưới phụ thuộc của bị cáo K, do lo sợ bị gây khó khăn trong công tác, không biết mục đích chiếm đoạt của K, không được K bàn bạc và không có động cơ vụ lợi. Trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, tích cực phối hợp với cơ quan điều tra xử lý vụ án, chị T3 đã nộp lại số tiền 4.900.000 đồng. Xét thấy những người này không vì mục đích vụ lợi, hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự mà kiến nghị với cơ quan quản lý cán bộ viên chức xử lý theo thẩm quyền đối với Nguyễn Thị Quỳnh A và Trần Thị Minh T3 là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Cần buộc bị cáo Đinh Văn K phải bồi thường cho Trung tâm Pháp y tỉnh T số tiền 9.800.000 đồng và bồi thường cho anh Trần Ngọc Q1 số tiền 93.880.000 đồng. Bị cáo đã tác động gia đình nộp 98.780.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình để khắc phục hậu quả và số tiền 4.900.000 đồng chị T3 giao nộp tại Cơ quan điều tra. Như vậy, bị cáo đã nộp đủ số tiền bồi thường, cần tuyên trả cho các bị hại theo quy định.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra phát hiện có vi phạm trong việc mua sắm trang thiết bị cho Trung tâm Pháp y tỉnh T: Năm 2019, quá trình chuyển trụ sở tại Trung tâm P, Đinh Văn K đã chỉ đạo kế toán là Nguyễn Thị Quỳnh A thanh toán 95.570.000 đồng để mua sắm trang thiết bị (gồm 04 quạt cây Thái Lan có điều khiển, đơn giá 3.600.000 đồng/chiếc, thành tiền 14.400.000 đồng; 01 máy làm nước nóng lạnh ba chức năng K, đơn giá 21.200.000 đồng/chiếc, thành tiền 21.200.000 đồng và 03 máy điều hòa Panasonic 18.000BTU, đơn giá: 19.990.000 đồng/chiếc, thành tiền 59.970.000 đồng) của cửa hàng Vũ Duy N1, địa chỉ tại số A, Q, thành phó T.

Tài liệu điều tra thể hiện hồ sơ mua sắm có đầy đủ thủ tục gồm: 01 hóa đơn bán hàng ngày 28/5/2019 (liên 2) có ghi tên và chữ ký của người mua hàng là Vũ Văn T4 – Trung tâm P; 03 giấy báo giá; 01 quyết định số 06 ngày 25/5/2019 về việc chọn đơn vị cung cấp điều hòa, quạt cây, máy làm nước nóng lạnh cho Trung

tâm P (do Đinh Văn K ký); 01 Hợp đồng kinh tế mua bán hàng hóa số 15/HĐKT ngày 23/5/2019 giữa Đinh Văn K đại diện Trung tâm P và ông Vũ Duy N1 đại diện cửa hàng ký hợp đồng; 01 Biên bản bàn giao ngày 27/5/2019; 01 Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 28/5/2019 (các biên bản bàn giao đều do Đinh Văn K ký đại diện Trung tâm Pháp y với ông Vũ Duy N1 đại diện cửa hàng); 01 giấy rút tiền dự toán ngân sách và Bảng kê chứng từ thanh toán do Đinh Văn K ký phần Thủ trưởng đơn vị, chị Nguyễn Thị Quỳnh A ký phần Kế toán trưởng

Tuy nhiên thực tế khi kiểm kê tài sản bàn giao công tác giám đốc số 10/BB-TTPY giữa ông Lâm Thiện T6 và Đinh Văn K ngày 02/2/2023, phát hiện có sai lệch về thiết bị mua sắm không đúng số lượng và chủng loại theo hóa đơn bán hàng, cụ thể: theo hợp đồng kinh tế mua bán hàng hóa số 15/HĐKT ngày 23/5/2019 thì số hàng hóa mua bán gồm: 04 quạt cây Thái Lan có điều khiển từ xa; 03 máy điều hòa Panasonic 18.000BTU và 01 máy làm nước ba chức năng Kagaroo, nhưng thực tế khi kiểm kê tài sản phát hiện có sai lệch về chủng loại có 03 quạt cây (02 quạt cây nhãn hiệu PEC Điện cơ 91 Bộ Q4; 01 chiếc quạt cây nhãn hiệu Vinawind Điện Cơ Thống Nhất); 01 máy điều hòa Panasonic 12.000 BTU/H và chưa lắp đặt máy Kagaroo do chưa có đường nước. Quá trình điều tra chị Nguyễn Thị Quỳnh A, anh Vũ Văn T4, anh Vũ Đình D là nhân viên Trung tâm Pháp y đều khai việc mua sắm trang thiết bị nêu trên Đinh Văn K không giao cho ai đi mua mà trực tiếp đi mua, lắp đặt. Đinh Văn K chỉ đạo anh T4, anh D, chị Quỳnh A hoàn thiện hồ sơ thanh toán như anh T4 ký vào hóa đơn mua bán hàng, anh D ký vào biên bản bàn giao nhưng Đinh Văn K không thừa nhận, Đinh Văn K khai Hợp đồng mua bán hàng hóa giao cho chị Nguyễn Thị Quỳnh A – kế toán thực hiện. Mặt khác trong quá trình quản lý tài sản chuyển tụ sở từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ1 sang Trụ sở tại số B, phố T, phường Đ, thành phố T còn lỏng lẻo, không có người giám sát và qua sổ theo dõi tài sản cố định, công cụ dụng cụ tại nơi sử dụng thì hàng năm đều ghi đầy đủ chủng loại như theo hóa đơn mua hàng. Quá trình điều tra xác định có việc thiệt hại 22.130.000 đồng cho Trung tâm pháp y trong quá trình mua sắm các tài sản nêu trên, nhưng đến nay không có tài liệu nào chứng minh Đinh Văn K hưởng lợi số tiền chênh lệch này nên chưa đủ căn cứ kết luận Đinh Văn K chiếm đoạt số tiền trên.

[6] Về vật chứng, tài sản đã quản lý:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu hồng, đã qua sử dụng quản lý của Đinh Văn K cần hoàn trả cho bị cáo
  • Đối với số tiền 4.900.000 đồng do chị Trần Thi Minh T7 giao nộp ngày 29/12/2022 cần tuyên trả cho Trung tâm pháp y theo quy định.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn K phạm tội “Tham ô tài sản” và tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”,

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 353, khoản 1 Điều 355; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn K 02 ( hai) năm tù về tội “Tham ô tài sản”; Xử phạt bị cáo Đinh Văn K 01 (một) năm tù về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Đinh Văn K phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023.

Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ có liên quan đến việc quản lý kinh tế, tài chính trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù

3. Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Đinh Văn K phải bồi thường cho Trung tâm Pháp y tỉnh T số tiền 9.800.000 đồng và bồi thường cho anh Trần Ngọc Q1 số tiền 93.880.000 đồng. Chuyển số tiền 98.780.000 đồng gia đình bị cáo Đinh Văn K đã nộp ngày 08/9/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình và số tiền 4.900.000 đồng chị Trần Thị Minh T3 đã nộp lại theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ngày 11/9/2021 để trả cho anh Trần Ngọc Q1 số tiền 93.880.000 đồng và Trung tâm pháp y tỉnh T số tiền 4.900.000 đồng.

4. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Đinh Văn K 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu hồng, đã qua sử dụng

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm được mô tả chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ngày 11/9/2021)

5. Về án phí:

Bị cáo Đinh Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6.Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/11/2023.

Nơi nhân:

  • - TAND và VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo; bị hại
  • - Lưu hồ sơ; Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Duy Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tham ô tài sản và lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 81/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản và Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Đinh Văn Kh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger