|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 869/2024/HS-PT
Ngày 22 tháng 10 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng;
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hưng;
Bà Đặng Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Hồng Tiến, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1066/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 9 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Lê Mạnh Đ, Trần Đình K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 449/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Mạnh Đ; tên gọi khác: không; sinh năm 1993, tại Hà Nội; nơi cư trú: số E ngách C Đ, tổ B, phường Đ, H, Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Minh Á; gia đình có 03 chị em (bị cáo là con thứ ba); có vợ là Nguyễn Thị Thu H (sinh năm 1997) và có 02 con (sinh năm 2018 và 2020); chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2023, tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt.
2. Trần Đình K; tên gọi khác: P; sinh năm 1993, tại Hà Nội; nơi cư trú: số F ngõ B, tổ D, phường Đ, H, Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Lê Thị K1; gia đình có 02 anh em (bị cáo là con thứ hai); có vợ là Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1996) và có 03 con (sinh năm 2011, 2018 và ngày 23/5/2023); chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2023 tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Đ theo chỉ định: Luật sư Phạm Thị H1, thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Đ theo chỉ định: Luật sư Đặng Thị Vân T2, thuộc Văn phòng L2, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Phan Trường A bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Giết người”; bị hại anh Nguyễn Văn D đều không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 28/10/2022, Mai Xuân Đ1 (tức Đ1 “Kỳ”) cùng Trần Đình K và Phan Trường A rủ nhau đi ăn đêm, uống rượu tại quán ăn D3 (địa chỉ: số nhà D, 46 & 48, ngõ B, phố Đ, phường Đ, H, Hà Nội); K điều khiển xe máy chở A đến trước, Đ1 điều khiển xe ô tô bán tải màu trắng (chưa rõ biển kiểm soát) đến sau; Đ1 và A ngồi cạnh nhau ở bàn phía trong cùng của quán, K ngồi đối diện Đ1 và A; trong khi ăn uống, A gọi điện thoại rủ thêm bạn là anh Hà Kim K2 đến ngồi ăn cùng.
Hồi 00 giờ 13 phút cùng ngày, anh Nguyễn Văn D cùng nhóm bạn là anh Trần Văn Đ2, anh Trần Văn B, anh Nguyễn Tiến D1, anh S và anh T3 (chưa xác định được nhân thân) cùng đến quán D3 để ăn đêm; nhóm anh D ngồi ăn uống ở bên cạnh, cùng dãy bàn với nhóm của Đ1. Một lúc sau, Lê Mạnh Đ cùng các bạn là H2 và V (chưa xác định được nhân thân) đi xe máy đến quán để ăn đêm; Đ nhìn thấy Đ1 là người quen nên đã sang bàn của Đ1 để mời rượu, rồi tiếp tục quay lại bàn của mình ngồi ăn cùng các bạn.
Trong quá trình ăn uống, anh D mở điện thoại xem bóng đá, nói to tiếng và nhiều lần chửi tục; K nói với anh D “Em ơi, không chửi bậy nữa”; anh D bực mình, tỏ thái độ thách thức nên dẫn đến xảy ra to tiếng, cãi nhau giữa K và D. Thấy vậy, Đ đi sang khoác tay qua cổ anh D và nói “Có người lớn, bạn ơi bé mồm thôi để mọi người còn nói chuyện, bạn nói to quá”; anh D vừa gạt tay Đ ra vừa chửi lại, chạy ra bàn uống nước sát cửa quán, cầm điếu cày định xông vào đánh Đ thì chị Phạm Thị H3 (chủ quán) can ngăn và giằng lại chiếc điếu cày. Đ quay lại nói với Đ1 “Cháu xin phép chú, xem con chó này thái độ như thế nào” rồi Đ lao vào dùng chân, tay đánh anh D; K cầm 01 chiếc bát ăn bằng sứ ở trên bàn ném về phía anh D nhưng không trúng; K cùng Đ xông vào dùng chân, tay dồn đánh anh D ra phía ngoài sân quán.
Cùng lúc này, Đ1 và A đi ra quầy bán hàng của chị H3; Đ1 lấy 01 con dao (dạng dao chặt xương bằng kim loại dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 10cm) đi trước, A đi theo sau (cầm 01 chén bằng sứ) ra sân; A cầm chén ném về phía anh D nhưng không trúng nên A lấy chiếc ghế nhựa màu xanh không có tựa lưng để đánh anh D thì được anh K2 giữ lại ghế và can ngăn nên A dùng lại. Sau đó, anh K2 đi ra khu vực để xe và lấy xe máy, đi về nhà; Đ và K vẫn liên tục đánh, đấm anh D, làm anh D dùng hai tay ôm che đầu và cúi về phía trước; Đ1 đi vòng ra sau lưng anh D, tay phải cầm con dao chém 01 nhát trúng lưng anh D; K và Đ tiếp tục khống chế, đánh, đấm và dồn anh D ra phía ngoài cửa quán; Đ1 cầm dao đi vòng ra ngoài cửa, chém tiếp 01 nhát trúng vào vùng mạn sườn, ngực trái của anh D làm anh D gục xuống đất.
Sau đó, Đ và K đi xe máy về nhà; A điều khiển xe ô tô chở Đ1 đi vứt con dao gây án xuống hồ Đ (mặt phố Trịnh Đình C) rồi về nhà.
Hậu quả: Anh Duy bị 01 vết thương vùng ngực trái và 01 vết thương vùng thắt lưng bên trái, chảy nhiều máu nên được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện B1 từ ngày 28/10/2022 đến ngày 05/12/2022 thì ra viện.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 02 giờ ngày 28/10/2022 (bút lục 38- 41) xác định: Quán ăn Dung D2 do chị Phạm Thị H3 là chủ quán, bán hàng về buổi tối và đêm. Quán này đặt tại vị trí sân trước của dãy nhà kéo dài từ số 44 đến số 46 và 48 của chị H3, có cổng ra vào hướng đông, quay ra ngõ B phố Đ. Hướng Nam có 01 bãi gửi xe ô tô đi chung cửa với quán, hướng Bắc là phía nhà thờ của gia đình... Hiện trường tại thời điểm khám nghiệm đã bị xáo trộn; không thu giữ được đồ vật, tài sản gì.
Cơ quan điều tra thu giữ do chị Phạm Thị H3 giao nộp: 01 thẻ nhớ loại 32GB bên trong có lưu dữ liệu camera liên quan đến vụ án; thẻ nhớ này lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với vật chứng là con dao gây án: Đấu đã vứt dao xuống hồ Đ; Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm (bút lục 46- 48) nhưng không thu giữ được vật chứng nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 7374 ngày 07/11/2022 (bút lục 91- 93), V1- Bộ C1 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn D tại thời điểm giám định tối thiểu là 23%. Hiện tại, anh Nguyễn Văn D đang điều trị tại bệnh viện nên chưa khám đầy đủ các tổn thương, các chuyên khoa và làm các xét nghiệm cần thiết để đánh giá được đầy đủ hết các tổn thương, di chứng chấn thương và cơ chế hình thành thương tích. Đề nghị Cơ quan điều tra đưa anh Nguyễn Văn D đi giám định bổ sung sau khi anh D điều trị ổn định và ra viện. Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương tại vùng ngực trái của anh Nguyễn Văn D do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 73 ngày 27/3/2023 (bút lục 286- 289), V1- Bộ C1 kết luận:
- + Hiện tại để lại: Sẹo phẫu thuật+ vết thương vùng ngực trái, kích thước 16x(0,1-0,4)cm; Sẹo dẫn lưu vùng ngực trái và bụng bên trái kích thước lần lượt là 2x0,5cm và 1,5x0,6cm; Sẹo phẫu thuật vùng bụng trên đường trắng giữa trên và dưới rốn, kích thước 23x(0,1-0,7)cm; 03 sẹo vùng lưng trái, kích thước lần lượt từ trên xuống dưới là: 8x(0,1-0,4)cm; 5x(0,1-0,3)cm; 6,5x(0,1-0,2)cm; Sẹo vùng thắt lưng - hông trái, kích thước 26x(0,10,4)cm; Sẹo mặt trước- ngoài 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước 3x(0,1-0,2)cm; Sẹo ô mô cánh tay trái, kích thước 2,5x(0,1-0,2)cm; Thủng màng ngoài tim, phẫu thuật đạt kết quả tốt; Vết thương tâm thất (thành tim) điều trị ổn định, chưa có biến chứng; Tổn thương màng phổi trái, không để lại di chứng; Phẫu thuật thăm dò ổ bụng đơn thuần; Da mi hai mắt không có dấu vết thương tích, thị lực hai mắt 8/10.
- + Kết luận: Sẹo phẫu thuật+ vết thương vùng ngực trái, kích thước trung bình: 02%; Sẹo dẫn lưu vùng ngực trái và bụng bên trái kích thước trung bình: mỗi sẹo 02%; Sẹo phẫu thuật vùng bụng trên đường trắng giữa trên và dưới rốn, kích thước lớn: 03%; 03 sẹo vùng lưng trái, kích thước trung bình: mỗi sẹo 02%; Sẹo vùng thắt lưng- hông trái, kích thước trung bình: 02%; Sẹo mặt trước- ngoài 1/3 dưới cẳng tay trái và ô mô cái tay trái, kích thước nhỏ: mỗi sẹo 01; Thủng màng ngoài tim, phẫu thuật đạt kết quả tốt: 08%; Vết thương tâm thất (thành tim) điều trị ổn định, chưa có biến chứng: 31%; Tổn thương màng phổi trái, không để lại di chứng: 03%; Phẫu thuật thăm dò ổ bụng đơn thuần: 11%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn D tại thời điểm giám định bổ sung là 55%.
- + Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương trên cơ thể của anh Nguyễn Văn D do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
Đối với Mai Xuân Đ1 (bút lục 23, 24, 554 và 555 ): Do Mai Xuân Đ1 đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra các quyết định Truy nã, Tách vụ án hình sự, Tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và Tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Mai Xuân Đ1 để điều tra, làm rõ và xử lý sau.
Đối với Hà Kim K2: Kết quả điều tra xác định K2 là bạn của Phan Trường A, được rủ đến ăn mà không quen biết trước Mai Xuân Đ1, Trần Đình K và Lê Mạnh Đ; khi việc đánh nhau xảy ra, K2 chạy vào bên trong quán và không tham gia đánh nhau; khi thấy A cầm ghế nhựa định đánh anh D, K2 chạy ra can ngăn và giữ lại ghế; sau đó, K2 lấy xe và đi về trước nên không biết việc Đ1 dùng dao tấn công người bị hại và không biết việc Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án Giết người; hành vi của K2 không đồng phạm về tội Giết người và không phạm tội Không tố giác tội phạm nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Hà Kim K2.
Sau khi sự việc xảy ra, Mai Xuân Đ1 đã nhận của Phan Trường A là 290.000.000 đồng, Lê Mạnh Đ là 200.000.000 đồng và Trần Đình K là 100.000.000 đồng; tổng cộng là 590.000.000 đồng, bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Văn D là 500.000.000 đồng; anh D đã nhận bồi thường, không yêu cầu bổ sung và ngày 06/01/2023 (bút lục 686), người bị hại Nguyễn Văn D có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các đối tượng gây án.
* Cáo trạng số 228/CT-VKSHN-P2 ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Mạnh Đ, Trần Đình K và Phan Trường A về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 449/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Lê Mạnh Đ, Trần Đình K phạm tội “Giết người”;
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lê Mạnh Đ 12 (mười hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2023.
- Xử phạt bị cáo Trần Đình K (tên gọi khác: P) 11 (mười một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Phan Trường A, quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/8/2024, các bị cáo Lê Mạnh Đ, Trần Đình K kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Mạnh Đ, Trần Đình K vẫn giữ nguyên các lời khai tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và thừa nhận hành vi phạm tội “Giết người”; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt do hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là nặng, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo khó khăn, các bị cáo là lao động chính và đang nuôi con nhỏ; nguyên nhân khởi đầu của vụ án là do bị hại gây sự, thách thức nên các bị cáo thiếu kiềm chế dẫn đến phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và kháng cáo của các bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá hành vi của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát thấy có đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Mạnh Đ và bị cáo Trần Đình K (tên gọi khác: P) phạm tội “Giết người”. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là chính xác, có căn cứ, không oan. Xuất phát từ nguyên nhân bị hại D to tiếng và chửi bậy nên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau giữa K và D. Đ sang góp ý thì anh D có ý định tấn công Đ trước. Do đó, Đ đã có hành vi dùng tay chân đánh anh D, K cầm bát ném nhưng không trúng bị hại. Các bị cáo không trực tiếp dùng hung khí tấn công bị hại. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 12 năm tù đối với Đ và 11 năm tù đối với K là có phần nghiêm khắc. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Đ và K đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, đang nuôi con nhỏ, do đó có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án hình sự sơ thẩm, giảm cho Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; giảm cho K từ 06 đến 09 tháng tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Đ: Về tội danh Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Giết người” là đúng; về mức hình phạt là quá nghiêm khắc. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo K: Nhất trí với quan diểm của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của luật sư đồng nghiệp mong HĐXX xem xét đến nguyên nhân ban đầu xảy ra vụ án và lỗi của bị hại, giảm hình phạt cho bị cáo. Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư bào chữa cho bị cáo.
[1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm Lê Mạnh Đ, Trần Đình K khai nhận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 28/10/2022, Mai Xuân Đ1 cùng Trần Đình K, Phan Trường A, Lê Mạnh Đ và nhóm bạn của Đ ngồi uống rượu, ăn đêm và xem bóng đá tại quán D3 (địa chỉ: số nhà D - 46 - 48, ngõ B, phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội); lúc này do anh Nguyễn Văn D (khách ăn tại bàn bên cạnh) nói to tiếng và chửi tục nên xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau với K; Đ có đi sang góp ý thì anh D chạy ra bàn uống nước (sát cửa quán), cầm điếu cày định xông vào đánh Đ nhưng chị Phạm Thị H3 (chủ quán) can ngăn và giằng lại điếu cày. Đ đã dùng chân, tay đánh anh D; K cầm 01 chiếc bát trên bàn ném về phía anh D nhưng không trúng; sau đó Đ và K dùng chân, tay đánh anh D; Đ1 lấy 01 con dao (dạng dao chặt xương bằng kim loại dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 10cm) đi vòng ra ngoài cửa, dùng dao chém 01 nhát trúng vào vùng mạn sườn, ngực trái làm anh D gục xuống đất rồi được đưa đi cấp cứu. Hậu quả: anh Nguyễn Văn D bị 01 vết thương vùng ngực trái làm đứt hoàn toàn sụn sườn và xương sườn từ 6 đến 9, làm rách màng ngoài tim và 01 vết thương vùng thắt lưng bên trái đứt toàn bộ cơ dựng gai bên trái, đứt mạc ngực lưng bên trái, vết thương thấu vào trong ổ bụng gây tụ máu lớn trong ổ bụng; do được cấp cứu và điều trị kịp thời nên bị hại anh Nguyễn Văn D không bị tử vong, chỉ bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 55% sức khỏe. Đ và K đồng phạm với Đ1. Đ1 có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu của cơ thể con người, là hành vi giết người. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Mạnh Đ và Trần Đình K xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:
Trong vụ án này bị hại D có hành vi và thái độ cư xử tại nơi công cộng chưa đúng lối sống văn minh. Do đó, giữa các bị cáo và người bị hại nảy sinh mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống. Các bị cáo Lê Mạnh Đ, Trần Đình K, Phan Trường A và Mai Xuân Đ1 phạm tội đồng phạm giản đơn, cùng thống nhất ý chí và tích cực thực hiện hành vi phạm tội; Lê Mạnh Đ, Trần Đình K tuy không trực tiếp dùng dao để gây ra các thương tích lớn cho bị hại nhưng Đ, K và A đều tích cực đánh và hành hung bị hại. Tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm các bị cáo Lê Mạnh Đ, Trần Đình K thành khẩn khai báo, gia đình tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đồng thời bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho các bị cáo. Nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS là có căn cứ. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đ 12 (mười hai) năm tù và bị cáo K 11 (mười một) năm tù là có phần nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, các con đều còn nhỏ, các bị cáo là lao động chính của gia đình và tích cực nộp án phí sơ thẩm thể hiện thái độ ăn năn về hành vi phạm tội của mình. Trước khi phạm tội, các bị cáo đều có nhân thân tốt, ngoài ra bị cáo Đ có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương, ông ngoại là Liệt sĩ, mẹ bị cáo có nhiều thành tích trong công tác. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo phạm tội chưa đạt, hoàn cảnh gia đình có khó khăn, bị hại cũng có lỗi, để đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm là có căn cứ.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo Đ và K để phù hợp tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và thể hiện chính sách khoan hồng, giáo dục của Nhà nước; đồng thời đảm bảo phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Lê Mạnh Đ và Trần Đình K (tên gọi khác: P) được chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lê Mạnh Đ và bị cáo Trần Đình K (tên gọi khác: Phệ); sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57, các Điều 38 và 58 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Mạnh Đ 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Giết người”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2023.
- - Xử phạt: Bị cáo Trần Đình K (tên gọi khác: P) 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Giết người”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2023.
- Về án phí: Bị cáo Lê Mạnh Đ và bị cáo Trần Đình K (tên gọi khác: P) không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo Lê Mạnh Đ và bị cáo Trần Đình K (tên gọi khác: P) đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo các biên lai thu tiền số 0066558 ngày 21/10/2024 và 0066566 ngày 22/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điều Văn Hằng |
Bản án số 869/2024/HS-PT ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về giết người
- Số bản án: 869/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
