| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 869/2024/HS-PT Ngày: 20-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành
Các Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân, ông Nguyễn Thanh Nhã
- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 510/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Văn Q có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS- ST ngày 12 tháng 04 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
* Bị cáo kháng cáo: Hoàng Văn Q1; sinh năm 1977, tại Hải Dương; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: số F, ngõ B, phố K, phường K, T, Hà Nội; nơi ở: số I, ngách E, phố V, phường K, T, Hà Nộinghề nghiệp: Cán bộ Viện địa chất thuộc Vtham gia Đảng, đoàn thể: không; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Hoàng Văn H(đã chết) và bà Vũ Thị L đình có 04 anh em (bị cáo là con thứ nhất); có vợ là Nguyễn Thị Bích N(sinh năm 1975) và có 04 con (sinh các năm 2006, 2013, 2015 và 2018); chưa có tiền án, tiền sự; không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo có ông Lê Hồng H1 bà Chu Thị Ú Q1; các luật sư của Công ty L4; 0913 831 789; ông Hlcó mặt.
* Người bị hại: anh Phạm Xuân H2; sinh năm 1989; địa chỉ: số A, ngách E, Vũ Tông Pphường K, T, H kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; có mặt.
* Những người làm chứng:
- - Chị Nguyễn Thị Bích N; sinh năm 1975; địa chỉ: số I, ngách E, Vũ Tông Pphường K, T, H mặt.
- - Cháu Hoàng Khánh L1; sinh ngày 10/12/2006; địa chỉ: số I, ngách E, Vũ Tông Pphường K, T, H mặt.
- - Anh Mai Xuân T; sinh năm 1991; địa chỉ: số C, ngõ F, phường Đ, H, H mặt.
- - Anh Lưu Đình L1; sinh năm 1974; địa chỉ: số B, phường K, T, Hà Nội; có mặt.
- - Anh Trần Mạnh Q2; sinh năm 1986; địa chỉ: số A, ngách A, V, phường K, T, Hà Nội có mặt.
- - Chị Mai Thị L2; sinh năm 1989; địa chỉ: số A, ngách E- V, phường K, T, Hà Nội có mặt.
- - Chị Ngô Thanh M; sinh năm 1996; địa chỉ: số G, ngách A, phường K, T, H mặt.
- - Chị Mai Thị L3 sinh năm 1992; địa chỉ: số C, ngõ F, phường Đ, H, H mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn Q3 anh Phạm Xuân H3 hàng xóm, ở đối diện trong ngách A (phường K, T, Hà Nội Tối ngày 05/11/2023, gia đình anh H2tổ chức sinh nhật cho con trai tại nhà; khoảng 20 giờ 50 phút, trong nhà có chị Ngô Thanh M (em họ của vợ anh H2, anh Mai Xuân T(bạn cùng quê với anh H2 và chị Mai Thị L3(vợ anh T), cùng các con của anh H2và anh TLúc này, Hoàng Văn Q4 con gái là cháu Hoàng K L1(sinh năm 2006) đi học về; khi Q5 phóng xe lên bậc thềm trong nhà thì vợ Q(chị Nguyễn Thị Bích N nói với Q6 trẻ con nhà thằng H2(ý là con anh H2 làm đứt dây thoát nước điều hoà của nhà mình; Q7 lên thấy thấy dây thoát nước điều hoà trên tầng nhà Q8 mất một đoạn giống như bị ai đó cắt đứt. Qđi xe vào trong nhà, hạ cửa cuốn xuống và đứng trong nhà chửi. Anh H2ở trong nhà đi ra cửa thì nghe thấy vợ chồng Q đang chửi nên cũng chửi lại; sau đó, anh H2quay vào trong nhà ngồi.
Qbảo cháu Hoàng K L1lấy cho Q9 dao; L1vào bếp lấy một con dao chặt bằng kim loại (màu đen, dài 34cm) đưa ra; Qcầm dao nhét vào túi quần phía sau bên phải đang mặc (đầu lưỡi dao hướng xuống phía dưới), mở cửa cuốn, đi ra ngoài và đi đến đứng trước cửa nhà anh H2; chị N(đang quét nhà) nên tay cầm chổi đi theo sau QThấy vậy, chị L4và chị M đưa các cháu nhỏ vào phía trong cầu thang; Qđi vào cửa nhà anh H2và chửi “Đm thằng H2mày đập cửa nhà tao hai lần”; anh H2đi từ phía trong nhà ra gần cửa, nói “Tao không đập”. Qlao tới gần anh H2 và hai bên giằng co với nhau, Q10 tay phải rút con dao (trong túi quần phía sau) vung lên chém 01 nhát vào phía ngực của anh H2; anh H2hô lên “Tơi, có dao”. Qtiếp tục giơ dao lên cao chém vào phía sườn trái của anh H2; anh H2né người nhưng vẫn bị chém trúng và dùng tay giữ tay trái của Q11. Anh T1 cạnh đó lao đến giữ tay phải của Q(tay đang cầm dao) và hai bên giằng co với nhau; chị N(vợ Q cũng lao đến kéo tay Q12; chị L4hô lên “chém người rồi, chém người rồi”.
Ngay lúc đó, anh Lưu Đình L1(là hàng xóm, nghe thấy tiếng kêu), chạy sang và cùng anh T2 tay phải của Q(đang cầm dao), anh T3 con dao từ tay của Q3 để vào bậc cầu thang trong nhà; anh T4 tục cùng anh L2giữ tay của Q anh H2bỏ tay đang giữ tay của Q12 thì thấy chiếc áo mà mình đang mặc bị rách, chảy máu ở dưới ngực và sườn trái. Anh Trần Mạnh Q2(đang đứng ở đầu ngách và nghe tiếng kêu), chạy vào và cùng anh T5 L2khống chế và giữ Q11 để chờ Công an đến giải quyết. Lúc này, anh T6 thấy Q13 tay vào túi quần bên trái móc điện thoại ra và làm rơi một con dao lam xuống nền nhà nên anh T7 con dao lam lên và đặt lên trên con dao chặt (vừa tước của Qtrước đó); sau đó, anh T8 giao nộp lại con dao chặt và dao lam cho Công an rồi đưa anh H2đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ
Hồ sơ tóm tắt Bệnh án của anh Phạm Xuân H4 bệnh viện Đ (bút lục 182) thể hiện: anh H2nhập viện ngày 05/11/2023; ra viện ngày 09/11/2023. Tình trạng thương tích lúc vào viện: vết thương vùng thành ngực sườn trái kích thước 10 x 0,4cm; vết thương thành bụng kích thước 0,3 x 0,3cm; không đau bụng, không đau ngực, không khó thở, vận động tứ chi bình thường, ngực chậu vững. Tình trạng thương tích lúc ra viện: Ổn định
Tại Kết luận giám định số 1720 ngày 24/11/2023 của Trung tâm Plđối với anh Phạm Xuân H2(bút lục 183- 185) như sau: Sẹo vết thương vùng ngực trái dưới núm vú trái: 02%; Sẹo vết thương vùng bụng trái dưới mạn sườn trái: 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phạm Xuân H4 thời điểm giám định là 03%; Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Phạm Xuân H5 vật có cạnh sắc gây ra.
Tại Kết luận giám định ADN số 239 ngày 14/12/2023, Trung tâm P1(bút lục 191- 192) kết luận: Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên con dao gửi giám định bằng Hb Card: Âm tính. ADN thu được từ con dao gửi giám định trùng với ADN của Phạm Xuân H2trên các locus STR đã phân tích.
Tại Kết luận giám định 1769 ngày 04/12/2023 của Trung tâm P1 đối với Hoàng Văn Q1 (bút lục 175- 179) kết luận: Vết thương nhiễm trùng hiện đóng vảy sâu trên mắt cá ngoài chân trái: 02%; Sẹo sây sát mu bàn chân dưới mắt cá ngoài chân trái: 0,5%; Vùng ngực, đùi trái không còn sưng nề bầm tím, không có sẹo vết thương: 0%; Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Văn Q14 thời điểm giám định là: 02%; Các tổn thương của anh Hoàng Văn Q vật tày, vật tày có cạnh gây nên.
Quá trình điều tra, Hoàng Văn Q15 thừa nhận hành vi dùng dao gây thương tích cho anh Phạm Xuân H2; Q16 nhận do bức xúc vì nghĩ trẻ con nhà anh H2làm đứt dây thoát nước điều hòa của nhà mình nên Q17 to tiếng với anh H6 đó, Qbảo con gái (Hoàng Khánh L lấy cho Q9 dao rồi đút dao vào túi quần phía sau đang mặc đi sang nhà anh H7 dao mà Llđưa cho Q18 buộc để trong túi nilông màu đen thắt nút kín. Mục đích Qcầm con dao chỉ để tự vệ vì trong nhà anh H2có đông người, Q15 có mục đích đe doạ và gây thương tích cho ai. Khi đến trước cửa nhà anh H8 con dao ra cầm trên tay phải và đi vào nhà; khi Qrút con dao ra khỏi túi quần thì dao vẫn đang được buộc trong túi nilông, Q19 kịp tháo túi nilông để lấy dao ra ngoài. Qvừa cầm dao đi vào thì bị anh H2và anh T2 hai tay lại, anh T9 tay phải đang cầm dao của Q12 phía sau lưng rồi giật con dao ra. Anh T10 con dao cất vào trong nhà, sau có thêm anh Trần Mạnh Q20 bên ngoài đi vào cùng mọi người giữ tay Q11. Qkhai không chém hay dùng dao tác động lên bất cứ ai, con dao lam thu được ở hiện trường không phải của QNgoài ra, Hoàng Văn Q21 khai trong quá trình mọi người đang giằng co xô đẩy nhau, Q8 đánh vào sườn bên trái và đùi phải (không rõ ai đánh). Sau đó, Q8 vợ anh H2là chị Mai Thị L2(không rõ đi từ đâu tới) nói “đánh chết mẹ nó đi” rồi dùng chân phải đá hai cái vào đùi của Q; ngoài ra, còn có chị Lê Thị T11 từ bên ngoài vào chửi Q(không nhớ rõ nội dung nhưng có câu: đánh bỏ mẹ nó đi) rồi dùng chân phải đá vào đùi của Q22 cái. Qđề nghị được đi giám định thương tích, khởi tố điều tra và xử lý những người đã đánh Qtheo quy định của pháp luật.
Về thương tích tại vùng ngực và đùi trái của Hoàng Văn Q1: quá trình điều tra xác định trong quá trình xảy ra vụ việc, không có ai đánh hoặc gây thương tích cho Qmọi người chỉ giằng co, khống chế, tước dao và ngăn Q15 thực hiện hành vi chém, gây thương tích cho người khác.
Đối với thương tích tại phần mắt cá chân trái của Hoàng Văn Q23 giám định có tỷ lệ tổn thương 2%. Tại Công an phường K1 (ngay sau khi xảy ra sự việc- bút lục 163), qua xem xét dấu vết trên cơ thể của Qkhông ghi nhận có thương tích này. Qkhai do mặc quần dài và không chú ý nên đến sáng ngày 06/11/2023 thì thấy đau nên Q24 phát hiện và đi khám thương tại Bệnh viện A sự việc xảy ra, do hỗn loạn nên Q15 biết thương tích từ đâu mà có, do ai, vật gì gây ra và cũng không có hình ảnh camera ghi nhận sự việc này.
Về dân sự: Người bị hại Phạm X H2yêu cầu bồi thường chi phí khám, điều trị thương tích và tổn thất tinh thần tổng cộng là 141.000.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS- ST ngày 12/4/2024, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố Hoàng Văn Q25 tội Cố ý gây thương tích; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q26 (tám) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 590 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Xuân H3 21.250.000 đồng, bao gồm: chi phí khám và điều trị thương tích là 3.250.000 đồng; chi phí mua thuốc là 9.000.000 đồng; và thiệt hại do tổn thất tinh thần là 9.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/4/2024, bị cáo Hoàng Văn Q27 đơn kháng cáo đối với toàn bộ Bản án sơ thẩm, kêu oan, khẳng định bị cáo không phạm tội và không chấp nhận trách nhiệm bồi thường dân sự.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng V Q08 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại tổng cộng là 21.250.000 đồng; các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn Q28 tích về nội dung vụ án và lập luận: Cơ quan điều tra cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình thu giữ và niêm phong vật chứng là dao tông, dao lam và trích xuất dữ liệu Camera; không tổ chức thực nghiệm điều tra tại hiện trường vụ án và không tổ chức đối chất giữa các lời khai có mâu thuẫn. Ngoài ra, việc điều tra của cấp sơ thẩm không đầy đủ, thể hiện: Cơ quan điều tra chỉ tổ chức giám định đối với con dao tông mà không giám định đối với con dao lam đã thu giữ; kết quả giám định xác định vết thương của người bị hại do vật sắc gây nên và chứng cứ này không phù hợp với độ sắc bén của dao tông đã thu giữ; tài liệu điều tra không có hình ảnh nào xác định bị cáo vung dao chém người bị hại; góc quay của Ctại nhà của người bị hại rất rộng và bao quát nhưng không có hình ảnh bị cáo vung dao chém người bị hại; đoạn Video thu giữ trong hồ sơ có dấu hiệu bị cắt ghép. Như vậy, Cơ quan điều tra vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và kết quả điều tra của cấp sơ thẩm không đầy đủ; nên đề nghị Hội đồng xét xử Hủy Bản án sơ thẩm và trả hồ sơ vụ án để điều tra, làm rõ và chứng minh đối với hung khí và chủ thể đã gây ra thương tích của người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Q29 hợp quy định tại các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn Q30 giữ nguyên các lời khai tại cấp sơ thẩm và khẳng định không gây thương tích cho người bị hại Phạm Xuân H2, bị cáo khai nhận có rút dao ra, cầm trên tay và xông vào phía người bị hại nhưng chưa kịp chém hoặc gây thương tích cho người bị hại thì đã bị người bị hại và anh Mai Xuân T(người làm chứng) khống chế.
[2.1] Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của người bị hại Phạm X H2phù hợp với các tài liệu về khám thương tích đối với người bị hại (bút lục 182), Kết luận giám định tổn thương cơ thể của người bị hại (bút lục 183), Kết luận giám định ADN của người bị hại (bút lục 191) và các vật chứng đã thu giữ (bút lục 151- 158), phù hợp lời khai của những người làm chứng là anh Mai Xuân T(chứng kiến sự việc bị cáo cầm dao tông bằng tay phải và chém về phía anh H2chị Ngô Thanh M(chứng kiến sự việc bị cáo và anh H2giằng co với nhau; sau đó, anh H2bị chảy máu ở vùng bụng và sườn, bị cáo vừa chửi vừa khua dao về phía anh H2chị Mai Thị L3(nhìn thấy bị cáo rút ra con dao màu đen chém về phía anh H2 và những người làm chứng khác (về diễn biến sự việc), phù hợp hình ảnh trích xuất từ Camera xác định bị cáo đang cầm dao bằng tay phải, lao người về phía trước (bút lục 142) và phù hợp lời khai của chính bị cáo khai nhận tại phiên tòa phúc thẩm (về việc bị cáo cầm dao trên tay, xông vào nhà và lao về phía người bị hại). Mặc dù bị cáo không thừa nhận hành vi dùng hung khí nguy hiểm và gây thương tích cho người bị hại nhưng căn cứ các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: do có mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày nên khoảng 20 giờ 50 phút ngày 05/11/2023, tại tầng một trong nhà ở của anh Phạm Xuân H2(địa chỉ: số A, ngách A, ngõ E, V, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội Hoàng Văn Q31 hung khí nguy hiểm là 01 con dao có cạnh sắc (dài 34 cm, cán dao dài 10 cm, lưỡi dao dài 24 cm, bản dao rộng 08 cm) chém và gây thương tích cho người bị hại Phạm Xuân H2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Hành vi của Hoàng Văn Q32 phạm tội Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo Hoàng Văn Q1 theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác nhận về việc các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng, hợp pháp về trình tự và thủ tục tố tụng; căn cứ các chứng cứ đã phân tích nêu trên, đủ cơ sở quy kết về hành vi phạm tội và kết án đối với bị cáo Hoàng Văn Q33 vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận lời khai và quan điểm của bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội Cố ý gây thương tích; Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm, lập luận và đề nghị của người bào chữa cho bị cáo cho rằng Cơ quan điều tra cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và việc điều tra ở cấp sơ thẩm chưa đầy đủ.
[3] Bị cáo Hoàng Văn Q1 phạm tội độc lập, không có đồng phạm, không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo cáo luôn chối tội, kêu oan và không thừa nhận hành vi phạm tội nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm đã áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn, xử phạt 08 tháng tù và không bị cáo cho hưởng án treo là có căn cứ, đúng pháp luật và tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, thái độ khai báo, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Hoàng Văn Q34 tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Bản án sơ thẩm đã buộc bị cáo Hoàng Văn Q35 bồi thường cho người bị hại về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là 21.250.000 đồng, là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên quyết định về dân sự của Bản án sơ thẩm.
[5] Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án, Hội đồng xét xử xác định: Người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự về nghĩa vụ trả tiền phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo các Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn Q21 đề nghị xử lý đối với các đối tượng đã gây thương tích cho bị cáo (tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%) và đề nghị về các nội dung khác nhưng bị cáo không xác định được chủ thể gây thương tích cho mình và các nội dung này đều nằm ngoài phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Kháng cáo không được chấp nhận, cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm nên bị cáo kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm theo các điểm a và e khoản 2 Điều 23, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS- ST ngày 12 tháng 04 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội đối với bị cáo Hoàng Văn Q1
- * Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q26 (tám) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện chấp hành hoặc bị bắt thi hành án.
- * Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự:
- - Buộc bị cáo Hoàng Văn Q35 bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Phạm Xuân H2: chi phí khám và điều trị thương tích là 3.250.000 đồng, chi phí mua thuốc là 9.000.000 đồng và bù đắp tổn thất về tinh thần là 9.000.000 đồng; tổng cộng là 21.250.000 đồng.
- - Trong trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Kể từ ngày Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a và e khoản 2 Điều 23, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo Hoàng Văn Q35 nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |
Bản án số 869/2024/HS-PT ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 869/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích
