TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 869/2024/HC-PT
Ngày: 19 - 8 – 2024
V/v “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 276/2024/TLPT-HC ngày 14 tháng 3 năm 2024 về “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế”
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 121/2023/HC-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.
- Người khởi kiện: Ông Phan Tấn T, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Viết D, sinh năm 1967 (có mặt);
Nơi cư trú: H N, khu phố A, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (văn bản ủy quyền ngày 07/6/2023)
- Người bị kiện:
1.Cục trưởng Cục thuế tỉnh B.
Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Diệu H, Chức vụ: Cục trưởng. Vắng mặt. (xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Cục trưởng: Ông Huỳnh Văn T1, Trưởng phòng kiểm tra nội bộ (có mặt).
2. Chi Cục trưởng Chi cục thuế thành phố P
3. Chi Cục thuế thành phố P.
Địa chỉ: Số A N, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức N, Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố P.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh L, Phó Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố P (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh B (xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND tỉnh B: Ông Nguyễn Thiện L1 – Chi cục trưởng C (có mặt)
2. Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)
3. Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện theo ủy quyền của bà P: Ông Phạm Viết D, sinh năm 1967 (có mặt);
Nơi cư trú: H N, khu phố A, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện là ông Phan Tấn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Người khởi kiện trình bày:
Ông Phan Tấn T là con ruột của bà Nguyễn Thị T2, đã chết ngày 30/3/2018 và ông Phan Tấn T3, đã chết ngày 06/8/2012. Trước khi chết, bà T2 và ông T3 có quyền sử dụng diện tích đất 2.727,4m², trong đó có 300m² đất ở và 2.427,4m² đất nông nghiệp, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Ông Q sống chung với cha mẹ từ nhỏ cho đến khi lập gia đình, sau khi cha mẹ ông chết thì vợ chồng ông tiếp tục ở nhà của cha mẹ.
Thực hiện Dự án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Tháp Pô S tại phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Ngày 06/7/2018 Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh B ban hành Thông báo số 2587/TB-PTQĐ về việc kiểm tra, đối chiếu số liệu đo đạc, kiểm định, bảng tính dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với nhà đất và những người cư trú trên nhà đất nêu trên của cha mẹ ông.
Đến ngày 28/8/2018, tại Văn phòng C1 UBND tỉnh B, anh chị em ông đã ký Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là nhà đất thuộc diện thu hồi của cha mẹ ông nêu trên. Theo đó, ông Phan Tấn T4 được toàn quyền giải quyết vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, nhận tiền, nhận đất tái định cư.
Ngày 28/9/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 7140/QĐ, UBND về việc thu hồi đất đối với hộ gia đình bà Nguyễn Thị T2, diện tích đất bị thu hồi là 2.727,4m², thửa đất số 14, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 28/9/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 7144/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ bà Nguyễn Thị T2. Theo đó, ngoài số tiền bồi thường, hỗ trợ, gia đình ông còn được giải quyết 01 lô đất tái định cư.
Ngày 26/6/2019, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 4173/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho hộ bà Nguyễn Thị T2.
Ngày 22/3/2019, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Văn bản số 989/UBND-ĐTQH trả lời cho Sở T7, Sở V về giải quyết chính sách thu tiền sử dụng đất ở tái định cư thuộc Dự án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Tháp Pô S tại phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh đồng ý chủ trương giải quyết chính sách về giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất ở tái định cư cho hộ bà Nguyễn Thị T2 được thực hiện theo giá quy định của Bảng giá đất (theo Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 của UBND tỉnh B) nhân với hệ số K tại thời điểm năm 2016 (theo Quyết định số 23/2016/QĐ-UBND ngày 26/7/2016 của UBND tỉnh B).
Căn cứ Biên bản họp Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố P số 39/HĐBTHT&TĐC – Pô Sah Inư ngày 26/7/2019 về việc giải quyết 01 lô đất hộ ghép cho vợ chồng ông Phan Tấn T và bà Nguyễn Thị Bích P (ông T là con của bà Nguyễn Thị T2) và Công văn số 6341/UBND-ĐBGT ngày 27/8/2019 của UBND thành phố P về việc giải quyết đất ở theo diện hộ ghép cho vợ chồng ông.
Ngày 03/9/2019, Trung tâm Phát triển quỹ đất ban hành thông báo số 2425/PTQĐ-QLQĐ về việc thông báo giao lô đất số 26, thuộc quỹ đất Khu dân cư A, diện tích 84m² cho vợ chồng ông Q. Theo đó, giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất phải nộp theo giá đất tại Quyết định số 59/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 của UBND tỉnh nhân với hệ số K (quy định tại khoản 2 Điều 31
Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh và khoản 4 Điều 1 Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 25/01/2018 của UBND tỉnh). Hệ số K được tính thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Quyết định số 23/2016/QĐ-UBND ngày 26/7/2016 của UBND tỉnh B.
Ngày 17/10/2019, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 6604/QĐ-UBND về việc giao đất ở cho vợ chồng ông T, lô đất ký hiệu số 26, diện tích 84,0m², tại Khu dân cư A, phường T, thành phố P để sử dụng vào mục đích đất ở. Đến ngày 17/02/2020, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 386/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 6604/QĐ-UBND, theo đó diện tích đất giao được điều chỉnh giảm còn 83,3m².
Ngày 30/6/2020, Chi cục Thuế thành phố P ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2071501-TK0005614/TB-CCT, ấn định số tiền sử dụng đất mà ông T phải nộp là 536.951.800 đồng. Theo đó, Chi cục T tính tiền sử dụng đất bằng mức giá đất và Hệ số K tại thời điểm giao đất năm 2019. Không đồng ý với số tiền sử dụng đất phải nộp, ông T đã khiếu nại đến Chi cục Trưởng Chi cục Thuế thành phố P. Mặc dù khiếu nại nhưng ông vẫn nộp tiền sử dụng đất đầy đủ và ngày 07/10/2020 ông T đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 114786.
Ngày 13/8/2021, Chi cục Trưởng Chi cục Thuế thành phố P ban hành Quyết định số 2019/QĐ-CCT về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông. Theo đó, Chi cục Trưởng không chấp nhận khiếu nại của ông, giữ nguyên Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2071501-TK0005614/TB-CCT ngày 30/6/2020 của Chi cục Thuế thành phố P.
Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, ông đã khiếu nại lần hai đến Cục Trưởng Cục Thuế tỉnh B.
Ngày 16/12/2021, Cục Trưởng Cục Thuế tỉnh B ban hành Quyết định số 1789/QĐ-CTBTH về việc giải quyết khiếu nại lần hai. Theo đó, Cục Trưởng Cục Thuế tỉnh B không chấp nhận khiếu nại lần hai của ông, giữ nguyên Quyết định số 2019/QĐ-CCT ngày 13/8/2021 của Chi cục Trưởng Chi cục Thuế thành phố P.
Theo Công văn số 989/UBND-ĐTQH ngày 22/3/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B thì giá đất tái định cư của ông được tính theo Bảng giá đất ban hành kèm theo Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 của UBND tỉnh B với hệ số K tại thời điểm năm 2016, theo Quyết định số 23/2016/QĐ-UBND ngày 26/7/2016 của UBND tỉnh B. Đồng thời, tại Thông báo số
2425/PTQĐ-QLQĐ ngày 03/9/2019 của Trung tâm phát triển quỹ đất thì giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất phải nộp theo giá đất tại Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 của UBND tỉnh B nhân với hệ số K, được tính thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Quyết định số 23/2016/QĐ-UBND ngày 26/7/2016 của UBND tỉnh B.
Tuy nhiên, Chi cục Thuế thành phố P lại áp dụng Bảng giá đất và hệ số K tại thời điểm năm 2019 để buộc ông phải nộp tiền sử dụng đất là không đúng quy định pháp luật, không phù hợp với chủ trương của UBND tỉnh B, gây thiệt hại về tiền sử dụng đất cho ông. Chi Cục trưởng Chi cục Thuế thành phố P và Cục trưởng Cục Thuế tỉnh B giải quyết khiếu nại, không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông là không đúng pháp luật, gây thiệt hại đến quyền lợi kinh tế của ông.
Vì vậy, ông Phan Tấn T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Hủy Quyết định số 2019/QĐ-CCT ngày 13/8/2021 của Chi cục Trưởng Chi cục Thuế thành phố P về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Phan Tấn T đối với số tiền sử dụng đất phải nộp;
- - Huỷ Quyết định số 1789/QĐ-CTBTH ngày 16/12/2021 của Cục Trưởng Cục Thuế tỉnh B về việc giải quyết khiếu nại lần hai của ông Phan Tấn T;
- - Hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2071501-TK0005614/TB-CCT ngày 30/6/2020 của Chi cục Thuế thành phố P;
- - Buộc Chi cục Thuế thành phố P phải tính lại tiền sử dụng đất mà ông Phan Tấn T đã nộp và trả lại số tiền thuế sử dụng đất mà ông Phan Tấn T5 đã nộp dư.
Người bị kiện Cục trưởng Cục Thuế tỉnh B trình bày: Cục Thuế tỉnh B vẫn giữ nguyên ý kiến tại Công văn số 471/CTBTH-KTNB ngày 18/01/2023. Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện vì hộ ông Phan Tấn T được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất nhưng không qua hình thức đấu giá thì tiền sử dụng đất phải nộp được xác định bằng giá đất tình thu tiền sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất được giao tại thời điểm có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyết định số 6604/QĐ-UBND ngày 17/10/2019 của UBND thành phố P giao đất ở cho ông T, bà P nên Chi cục thuế thành phố P áp dụng giá đất theo Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND và hệ số điều chỉnh giá đất là 2,93 theo Quyết định số 06/2019/QĐ-UBND ngày 14/02/2019 của UBND tỉnh B là đúng pháp luật.
Người bị kiện Chi Cục trưởng Chi Cục Thuế thành phố P và Chi Cục
Thuế thành phố P trình bày: Chi cục Thuế thành phố P vẫn giữ nguyên ý kiến tại Công văn số 216/CCT-KTNDP ngày 19/01/2023. Tại Văn bản này có sự điều chỉnh tại dòng thứ 14 từ trên xuống trang 3: “... thời điểm thu tiền sử dụng đất của ông là ngày 17/2/2020” nay điều chỉnh lại thành “thời điểm thu tiền sử dụng đất của ông là ngày 17/10/2019”. Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh B: Không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Bình Thuận: Cung cấp ý kiến tại Công văn số 159/PTQĐ-QLQĐ ngày 06/4/2023 của Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Bình Thuận.
* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 121/2023/HC-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định:
Căn cứ vào Điều 3; khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 157, Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 348 Luật tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 108, khoản 2 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Tấn T về việc:
- - Hủy thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2071501-TK0005614/TB-CCT ngày 30/6/2020 của Chi cục thuế thành phố P.
- - Hủy Quyết định số 2019/QĐ-CCT ngày 13/8/2021 của Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố P về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan Tấn T (lần đầu)
- - Huỷ Quyết định số 1789/QĐ-CTBTH ngày 16/12/2021 của Cục Trưởng Cục Thuế tỉnh B về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan Tấn T (lần hai);
- - Buộc Chi cục Thuế thành phố P phải tính lại tiền sử dụng đất mà ông Phan Tấn T đã nộp và trả lại số tiền thuế sử dụng đất mà ông Phan Tấn T5 đã nộp dư.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 27/11/2023, người khởi kiện là ông Phan Tấn T có đơn kháng cáo đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
Đại diện theo ủy quyền của Chi cục thuế thành phố P xác định căn cứ theo các quy định của pháp luật đất đai thì căn cứ tính thuế là kể từ ngày có quyết định giao đất. Quyết định số 6604/QĐ-UBND ngày 17/10/2019 của UBND thành phố P giao đất ở cho ông T, bà P nên Chi cục thuế thành phố P áp dụng giá đất theo Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND và hệ số điều chỉnh giá đất là 2,93 theo Quyết định số 06/2019/QĐ-UBND ngày 14/02/2019 của UBND tỉnh B là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông T và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông T và giữ nguyên bản án sơ thẩm (có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông T đúng hình thức, nội dung, nộp trong hạn luật định và đã đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Người bị kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử theo luật định.
[2] Xét nội dung kháng cáo của người khởi kiện, thấy rằng:
[2.1] Thực hiện Dự án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Tháp Pô S tại phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận Ngày 28/9/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 7140/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với hộ gia đình bà Nguyễn Thị T2, diện tích đất bị thu hồi là 2.727,4m², thửa đất số 14, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vợ chồng ông
Phan Tấn T và bà Nguyễn Thị Bích P (ông T là con của bà Nguyễn Thị T2) đủ điều kiện được giao 01 lô đất ở theo diện hộ ghép.
Ngày 17/10/2019, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 6604/QĐ-UBND về việc giao đất ở cho vợ chồng ông T, lô đất ký hiệu số 26, diện tích 84,0m², tại Khu dân cư A, phường T, thành phố P để sử dụng vào mục đích đất ở. Đến ngày 17/02/2020, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 386/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 6604/QĐ-UBND, theo đó diện tích đất giao được điều chỉnh giảm còn 83,3m².
Căn cứ khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”. Khoản 2 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Bảng giá đất được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp sau đây: a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; ......”. Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ T8 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất quy định:
“Việc xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP; một số nội dung tại Điều này được hướng dẫn cụ thể như sau:
- Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá thì tiền sử dụng đất phải nộp được xác định bằng giá đất tính thu tiền sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất được giao tại thời điểm có quyết định giao đất nhân (x) với diện tích phải nộp tiền sử dụng đất, trong đó:
- Về giá đất tính thu tiền sử dụng đất:
- ........;
- Trường hợp được Nhà nước giao đất mà diện tích tính thu tiền sử dụng đất của thửa đất hoặc khu đất có giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng đối với các thành phố trực thuộc Trung ương; dưới 10 tỷ đồng đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; dưới 20 tỷ đồng đối với các tỉnh còn lại thì giá đất tính thu tiền sử dụng đất được xác định bằng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Bảng giá đất nhân (x) với hệ số điều chỉnh giá đất.”
- Về giá đất tính thu tiền sử dụng đất:
[2.2] Do Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành quyết định giao đất ở cho ông Phan Tấn T và bà Nguyễn Thị Bích P vào ngày 17/10/2019 nên Chi cục thuế thành phố P căn cứ Quyết định 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 và Quyết định số 06/2019/QĐ-UBND ngày 14/02/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh
B để tính thu tiền sử dụng đất đối với hộ ông T và ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2071501-TK0005614/TB-CCT ngày 30/6/2020 là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Tấn T là có căn cứ, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông T và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của ông T và giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của ông Phan Tấn T không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Tấn T; Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 121/2023/HC-ST ngày 13/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Tấn T về việc: “Hủy Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2071501-TK0005614/TB-CCT ngày 30/6/2020 của Chi cục Thuế thành phố P; Quyết định số 2019/QĐ-CCT ngày 13/8/2021 của Chi cục Trưởng Chi cục Thuế thành phố P về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan Tấn T (lần đầu); Quyết định số 1789/QĐ-CTBTH ngày 16/12/2021 của Cục Trưởng Cục Thuế tỉnh B về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan Tấn T (lần hai); Buộc Chi cục Thuế thành phố P phải tính lại tiền sử dụng đất mà ông Phan Tấn T đã nộp và trả lại số tiền thuế sử dụng đất mà ông Phan Tấn T đã nộp dư”.
- Về án phí:
Ông Phan Tấn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0008486 ngày 27/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Ông T đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm.
3. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phan Tấn T phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000097 ngày 28/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận (đã nộp xong)
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Hùng | Hoàng Minh Thịnh |
| Bùi Thị Thu |
Bản án số 869/2024/HC-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế
- Số bản án: 869/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Tấn T; Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm
