TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 869/2024/DS-PT
Ngày: 27 - 9 - 2024
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh
Bà Trần Thị Thúy Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 27/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 173/2024/TLPT-DS ngày 13/3/2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần”, giữa các bên đương sự:
- Nguyên đơn:
1/ Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1968;
2/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972;
Cùng địa chỉ: 7 tổ D, Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Bà Nguyễn Thị Kim T. Người bảo vệ quyền lợi cho bà T: Luật sư Trịnh Vĩnh P, Luật sư Phạm Quang T1, Văn phòng Luật sư Trịnh Vĩnh P, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
3/ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970;
4/ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975;
Cùng địa chỉ: A K, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Mạc Bỉnh D, sinh năm 1969;
Địa chỉ: 7 tổ D, Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1956;
2/ Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1964 (bị mất năng lực hành vi dân sự);
Cùng địa chỉ: A khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
3/ Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1966;
Địa chỉ: 7 tổ D, Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
4/ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959;
Địa chỉ: 3 Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
5/ Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1963;
6/ Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1981;
Cùng địa chỉ: B, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
7/ Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Yokohama Shi Izumiku Kamidacho 2670-13-102 J (Nhật Bản)
8/ Những kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị N1 (đã chết)
8.1/ Ông Quách Đại V, sinh năm 1949;
8.2/ Ông Quách Quang V1, sinh năm 1972;
8.3/ Bà Quách Lý Quỳnh G, sinh năm 1974;
8.4/ Bà Quách Lý Tường V2, sinh năm 1976;
8.5/ Ông Quách Trí D1, sinh năm 1979;
8.6/ Bà Quách Lý Thụy I, sinh năm 1983;
8.7/ Bà Quách Thị Phương A, sinh năm 1988;
Cùng địa chỉ: 3, tổ G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
· Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim T.
(Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim T và Luật sư Phạm Quang T1 có mặt; những người tham gia tố tụng còn lại đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T4 và là người giám hộ của bà Nguyễn Thị T3 trình bày:
Cha mẹ bà là ông Nguyễn Văn A1 (chết năm 1988) và bà Nguyễn Thị C2 (chết năm 1977) có những người thừa kế gồm: Bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn T6, bà Nguyễn Thị T5, bà Nguyễn Thị T3 (bị mất năng lực hành vi dân sự), ông Nguyễn Văn T4, bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị N1 (đã chết).
Trong số di sản cha mẹ bà để lại có căn nhà số G Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nhà ông Mạc Bỉnh D nằm kế cạnh là số G Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Từ năm 2000 đến năm 2009 ông D xây cất nhiều lần không xin phép, lấn chiếm, làm hư hỏng căn nhà của bà. Đồng thời, ông D còn gây ảnh hưởng đến tự do sinh hoạt, soi mói cuộc sống riêng của nhà bà. Ủy ban nhân dân (UBND) phường B đã nhiều lần giải quyết nhưng hết lần này đến lần khác ông D vẫn tiếp tục vi phạm, gây hư hỏng nhà, nứt nhiều chỗ hai bên tường, thấm hư tường, xệ cửa, phòng sau ông D xây mái tôn chảy nước vào nhà bà.
Nhà ông D hạ nền móng, lấn sang móng nhà bà. Ông D xây tường chồng lên tường nhà bà. Sau khi UBND thành phố B có quyết định buộc ông D phải bít 18 cửa sổ và các lỗ thông gió nhìn sang phía nhà bà thì ông D vẫn tiếp tục xây dựng và mở nhiều lỗ thông gió nhìn sang hướng nhà bà, gây thêm hư hỏng cho nhà của bà. Năm 2018 trong khi Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án, ông D lại xây dựng khiến tường bị nứt rất nghiêm trọng, thấm, rỉ nước gây nguy cơ có thể sập tường bất cứ lúc nào. Do đó, bà đề nghị kiểm tra giấy phép xây dựng, chất lượng xây dựng của nhà ông D, vì nhà ông D xây 03 tầng lầu gác gỗ, tháng 5/2018 thì sửa cột giả đúc là không đảm bảo an toàn. Bà yêu cầu buộc ông D phải tháo dỡ phần xây dựng, trả lại hiện trạng nhà như khi Tòa án đang giải quyết (thời điểm tháng 5/2018 khi ông D cho tiệm V3 thuê nhà).
Theo đơn khởi kiện ngày 28/8/2011, các đồng nguyên đơn yêu cầu:
Ông D phải trả lại bức tường quẹo ngang 2,5m đã xây chồng lấn lên nhà nguyên đơn; Trả lại phần đất lấn chiếm khoảng 7,4m², cắt bỏ phần xây dựng lấn chiếm, hạ nền từ 1m đến 2m; Ông D phải xây bít lỗ thoát nước, không để nước chảy qua nhà nguyên đơn; Xây bít ban công nhìn sang nhà 71/1, trả lại bức tường cuối đất, cưa cây sắt du7; Bồi thường thiệt hại về tài sản 20.000.000đồng.
Tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ ngày 15/3/2021 và tại phiên tòa bà T xác định yêu cầu khởi kiện:
Về quyền sử dụng đất:
Yêu cầu ông D phải trả lại diện tích phần móng là 7,346m², phần trên tường là 1,435m². Bà không đồng ý với trích lục đo đạc hiện trạng thửa đất số 2912/2019 ngày 19/4/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ tuy nhiên về ranh mốc của phần diện tích đất lấn chiếm bà xác định theo trích lục đo đạc hiện trạng thửa đất số 2912/2019 như sau:
Phần móng (12,11,3',10,2',4',1,4,5,11',3,2,10',1,9',h,i,8',20,19) là: 36,73m x 0,2m = 7,346m²; Phần trên tường (12,11,3',10,2',4',1,4,5,11',3,2,10,1) là: 28,7m x 0,05 = 1,435m².
Yêu cầu ông D hạ nền sâu từ 01m đến 03m, tổng chiều dài 37m phần tường sát với nhà bà.
Về công trình, tài sản trên đất:
Yêu cầu ông D phải đập bỏ 02 bức tường, 01 bức có diện tích 2,35m², 01 bức có diện tích 5,68m². Tổng: 8.03m² do ông D đã xây tường chồng lấn lên tường của nhà bà.
Yêu cầu bít những lỗ thoát nước làm nước chảy qua nhà bà.
Bít 12 lỗ thông gió trên tường phòng ngủ của nhà ông D.
Yêu cầu bít ban công nhìn sang nhà bà.
Yêu cầu cắt những cây sắt dư sang phần không gian của nhà bà.
Về bồi thường thiệt hại:
Yêu cầu bồi thường cho bà số tiền 200.000.000đ về tài sản, 5.000.000đ tiền mua cửa mới, 20.000.000đ về tinh thần. Theo đơn khởi kiện bà yêu cầu 20.000.000đ là từ 2009, đến nay đã 12 năm nên tổng thiệt hại đến hiện tại là: 225.000.000đồng.
Ngoài ra tại phiên tòa, bà T còn yêu cầu:
Tòa án phải xử lý UBND phường B và UBND thành phố B vì đã để ông D xây dựng nhiều lần nhưng không có giấy phép, không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật.
Tòa án phải xem xét và chịu trách nhiệm vì không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như bà đã yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án.
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị N có văn bản ủy quyền ngày 03/01/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim T tuy nhiên đến ngày 25/10/2018 bà N, bà H1 có văn bản hủy bỏ ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Kim T. Bà N, bà H1 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt, không cung cấp thêm lời khai, tài liệu, chứng cứ.
Theo đơn và lời khai của phía bị đơn ông Mạc Bỉnh D trình bày:
Nhà ông và nhà của nguyên đơn liền kề nhau. Đầu năm 2003 ông có xây dựng nhà là số G Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình xây nhà có một số thiếu sót khách quan làm ảnh hưởng đến nhà của nguyên đơn. Cụ thể làm hư cống thoát nước, mái tôn phòng sau và một số vật dụng khác.
Do bà T có đơn khiếu nại đến UBND phường B nên ngày 03/6/2003 UBND phường đã mời hai bên làm việc để hòa giải. Tại buổi hòa giải, ông D đã tự nguyện bồi thường cho bà T số tiền 30.600.000đồng. Bà T cam kết sau khi nhận tiền sẽ không thắc mắc hoặc khiếu nại gì thêm. Nay bà T tiếp tục khởi kiện cho rằng ông lấn chiếm đất của gia đình bà T, yêu cầu ông phải bồi thường thì ông không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C trình bày:
C tổ D, Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là do cha mẹ ông để lại, bà Nguyễn Thị Kim T là người quản lý, sử dụng. Mọi tranh chấp liên quan đến căn nhà nói trên trong vụ án này thì ông không có ý kiến và không có yêu cầu gì. Ông xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị T5 trình bày:
Ngày 27/02/2012 bà Nguyễn Thị T2 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Kim T, ngày 07/3/2012 bà Nguyễn Thị T5 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Kim T. Ngày 11/11/2013 bà T5, bà T2 có văn bản hủy bỏ ủy quyền đối với bà T.
Sau khi bà Nguyễn Thị C2 chết, bà T5 được ông Nguyễn Văn A1 ủy quyền quản lý sử dụng căn nhà số G tổ D, Khu phố A, phường B. Bà được T7 xây dựng tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ngày 10 tháng 9 năm 1986 và đưa cho bà T cất giữ. Sau đó bà làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tuy nhiên bà T không hợp tác, không giao giấy tờ liên quan nên đến hiện tại bà vẫn không thực hiện được.
Căn nhà số G của gia đình bà bị thiệt hại từ khi ông Mạc Bỉnh D quản lý sử dụng căn nhà số G và nhiều lần sửa, xây dựng, lấn chiếm làm nghẹt cống và ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của các chị em nhà bà, cụ thể là các đồng nguyên đơn. Các bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, và không có yêu cầu gì trong vụ án này và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Quách Đại V, ông Quách Quang V1, bà Quách Lý Quỳnh G, bà Quách Lý Tường V2, ông Quách Trí D1, bà Quách Lý Thụy I, bà Quách Thị Phương A trình bày:
Bà Nguyễn Thị N1 đã chết ngày 26/02/2009, những người thừa kế của bà N1 gồm Ông Quách Đại V, ông Quách Quang V1, bà Quách Lý Quỳnh G, bà Quách Lý Tường V2, ông Quách Trí D1, bà Quách Lý Thụy I, bà Quách Thị Phương A. Ông V là chồng của bà N1, ông V và các con của bà N1 như nêu trên thống nhất không có ý kiến đối với nội dung tranh chấp trong vụ án, không có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T6 đã được Tòa án ủy thác tư pháp 02 lần:
Lần 1 gồm Thông báo thụ lý số 10/TB-TLVA ngày 28/02/2014, Văn bản yêu cầu cung cấp ý kiến và tham gia hòa giải, xét xử số 80/TAT-TDS ngày 29/9/2014, Thông báo hòa giải số 45/TB-TA ngày 29/9/2014, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2014/QĐ-ST ngày 29/9/2014.
Lần 2 gồm Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 26/2015/QĐST-DS ngày 18/3/2015, Thông báo mở lại phiên tòa số 20/TB-TA ngày 07/4/2015. Tuy nhiên, ông T6 không cung cấp lời khai, ý kiến và cũng không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 trước đây ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Kim T và ngày 23/12/2020 đã hủy ủy quyền đối với bà T. Ông C1 đã được Tòa án triệu tập làm việc nhiều lần tuy nhiên không cung cấp thêm lời khai, tài liệu chứng cứ nào, không có mặt để tham gia tố tụng tại Tòa án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2021/DS-ST ngày 16/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã tuyên xử:
1/ Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị N.
2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị H về việc:
Về quyền sử dụng đất:
Yêu cầu ông D phải trả lại diện tích phần móng là 7,346m², phần trên tường là 1,435m²; Yêu cầu ông D hạ nền sâu từ 01m đến 03m, tổng chiều dài 37m phần tường sát với nhà nguyên đơn.
Về công trình, tài sản trên đất:
Yêu cầu ông D phải đập bỏ 02 bức tường, 01 bức có diện tích 2,35m², 01 bức có diện tích 5,68m². Tổng: 8.03m² do ông D đã xây tường chồng lấn lên tường của nhà nguyên đơn; Yêu cầu bít những lỗ thoát nước làm nước chảy qua nhà nguyên đơn; Bít 12 lỗ thông gió trên tường phòng ngủ của nhà ông D; Yêu cầu bít ban công nhìn sang nhà nguyên đơn; Yêu cầu cắt những cây sắt dư sang phần không gian của nhà nguyên đơn.
Về bồi thường thiệt hại:
Yêu cầu bồi thường số tiền 200.000.000đồng về tài sản, 5.000.000đồng tiền mua cửa mới, 20.000.000đồng về tinh thần. Tổng thiệt hại là: 225.000.000đồng.
Không chấp nhận về yêu cầu Tòa án phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Về việc yêu cầu kiểm tra giấy phép xây dựng của nhà ông D, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại của UBND phường B và U về việc để cho ông D xây dựng, sửa chữa công trình: Nội dung này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim T làm đơn kháng cáo, yêu cầu giải quyết lại theo trình tự phúc thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp, buộc ông D phải trả lại, đập bỏ 2 bức tường cũng như là đập bỏ phần móng lấn chiếm sang nhà bà, khắc phục các phần như là nước tràn qua nhà, phần lỗ thông gió và bồi thường số tiền thiệt hại là 225.000.000đồng theo như đơn và yêu cầu khởi kiện tại cấp sơ thẩm.
Luật sư bảo vệ cho nguyên đơn thì cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu của phía nguyên đơn là không có cơ sở, vì theo kết luận giám định thì việc lấn chiếm nền móng, lấn chiếm tường là có thật, thiệt hại của phía bà T là có thật. Luật sư cho rằng có vi phạm tố tụng khi Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị là bác yêu cầu là chưa đúng với thực tế xảy ra vụ việc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng cũng thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo pháp luật của tố tụng dân sự. Về nội dung Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện cũng như không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn vì Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục cũng như về nội dung để xem xét đối với yêu cầu của bà T và không chấp nhận khởi kiện là có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa nghe đương sự trình bày và nghe Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim T làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
[2.1] Bà T yêu cầu phía ông D phải gỡ bỏ. Đối với phần móng, phần tường xây đè lên tường nhà của bà, yêu cầu thực hiện việc khắc phục phần ngập cũng như phần lỗ thông khói. Ngoài ra, thì tài sản của bà bị thiệt hại gồm các cửa trước, cửa sau cũng như các bức tường bị nứt.
Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý giải quyết vụ án cũng đã thực hiện các trình tự, thủ tục như thực hiện thẩm định tại chỗ, thực hiện việc giám định theo quy định.
[2.2] Căn cứ vào các biên bản thẩm định tại chỗ và Kết luận giám định xây dựng xác định việc lấn chiếm ở phần móng cũng như phần tường là có thật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã không thực hiện việc tiến hành khảo sát, kết luận về chuyên môn xây dựng khi thực hiện việc dỡ bỏ 2 bức tường cũng như phần móng thì có ảnh hưởng gì đến các kết cấu của các nhà xung quanh hay các khu vực xung quanh hay không? Vì vậy, không thể xác định cũng không thể đập bỏ 2 bức tường khi chưa xác định được các kết cấu mà đập bỏ thì có ảnh hưởng gì đến các kết cấu khác hay không.
Vì vậy, cần thiết phải cho giám định lại để xem khi xử lý đối với 2 bức tường lấn này và phần nền móng của bà T bị lấn chiếm có bị ảnh hưởng và tác động gì đến các khu vực xung quanh hay không. Hậu quả xảy ra đối với các hoạt động nêu trên.
[2.3] Tại phiên tòa sơ thẩm, phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của phía bà T, nhưng tại biên bản phiên tòa và tại phần nhận định của bản án lại xác định Viện kiểm sát đề nghị bác yêu cầu bà T, điều này thể hiện sự mâu thuẫn và không khách quan trong quá trình thực hiện tố tụng. Đây là vi phạm tố tụng nghiêm trọng.
[2.4] Ngoài ra, trong hồ sơ còn thiếu các bút lục 391, 392 và các bút lục từ 958 cho đến 967, tổng cộng là 12 bút lục bị mất. Tòa án cấp phúc thẩm đã yêu cầu khắc phục đối với các bút lục và tài liệu có nêu trên và theo văn bản trả lời của Tòa án tỉnh Đồng Nai xác định không có các bút lục này.
[2.5] Do có nhiều vi phạm tố tụng, cũng như thiếu sót trong quá trình thu thập chứng cứ, nên có cơ sở hủy bản án sơ thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Sẽ được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án theo luật định.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị huỷ nên bà Nguyễn Thị Kim T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2021/DS-ST ngày 16/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T với bị đơn ông Mạc Bỉnh D và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải quyết theo quy định của pháp luật.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Sẽ được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án theo luật định.
3/ Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim T không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0000128 ngày 07/01/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
4/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 869/2024/DS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần.
- Số bản án: 869/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử lại
