Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 868/2024/KDTM-ST

Ngày: 22/8/2024

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Minh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ

2/ Bà Lê Thị Thanh Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:Bùi Thị Bích P - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 369/2024/TLST-KDTM ngày 08/4/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2024/QĐXXST-KDTM ngày 10/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 115/2024/QĐST-KDTM ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N2

Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Tp ..

Đại diện ủy quyền: Ông Vương Hoàng N (theo Quyết định ủy quyền số 564/QĐ-NHNo-PC-TH ngày 28/3/2024).

2. Bị đơn: Công ty TNHH T

Địa chỉ: Tầng C, P Khu I, Tòa nhà T, số A N, phường A, quận P, Tp .

Đại diện pháp luật: Ông Vũ Văn Đ – Chức vụ: Giám đốc

HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, Tp . (vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Vũ Văn S, sinh năm 1970
  • - Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1975

Cùng địa chỉ: 5 Khu phố C, phường T, quận A, Tp . (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện ủy quyền của Nguyên đơn Ngân hàng N2 trình bày:

Ngày 24/9/2021, Ngân hàng N2 (A) – Chi nhánh P1Công ty TNHH T (Công ty T) ký kết hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443, Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng ngày 23/12/2021, với nội dung cơ bản như sau:

  • Hạn mức cấp tín dụng: 28.000.000.000 VNĐ (hai mươi tám tỷ) đồng.
  • Tại Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng ngày 23/12/2021, các bên thống nhất sửa đổi: Hạn mức cấp tín dụng: 30.500.000.000 VNĐ (ba mươi tỷ năm trăm triệu) đồng.
  • Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn phục vụ hoạt động kinh doanh năm 2021 – 2022 của bên vay.
  • Phương thức cho vay: Theo hạn mức tín dụng.
  • Thời hạn cho vay theo từng giấy nhận nợ cụ thể.
  • Lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc trong hạn là: 8,0%/năm, áp dụng theo từng giấy nhận nợ.
    • + Đối với cho vay ngắn hạn dưới 06 tháng: áp dụng lãi suất cố định.
    • + Đối với cho vay ngắn hạn từ 06 tháng trở lên: áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh định kỳ tối thiểu 03 tháng/lần vào ngày 15/01, 15/4, 15/7, 15/10, kỳ điều chỉnh lần đầu cách ngày nhận nợ tối thiểu 01 tháng, tối đa 05 tháng.
  • Lãi suất cho vay kỳ điều chỉnh: (bằng) trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm niêm yết (thông thường) bằng đồng Việt Nam, trả lãi kỳ hạn 6 tháng đang áp dụng tại chi nhánh có tính DTTT, DTBB + (cộng) biên độ 3,5%, nhưng không thấp hơn 8,0%.
  • Lãi suất: 7,5%/năm, áp dụng đến 31/12/2021, sau đó được điều chỉnh về lãi suất cho vay thông thường là 8%/năm.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, A đã lần lượt ký kết với phía bị đơn một số Hợp đồng bảo đảm. Trong quá trình thực hiện thu hồi nợ, A và Bên thế chấp đã phối hợp xử lý các tài sản thế chấp và thu hồi một phần khoản nợ theo quy định pháp luật. Hiện tại, khoản vay theo HĐTD số 443 đang còn được bảo đảm bởi các Hợp đồng thế chấp sau:

1. Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100277 ngày 24/9/2021 (HĐTC số 00277):

  • Bên thế chấp: Ông Võ Văn S1
  • Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ tại thửa đất số 184-3, tờ bản đồ số 4A (sơ đồ nền), địa chỉ thửa đất: 53/3 Khu phố C, phường T, quận A, Tp . theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1718 do UBND quận A1 cấp ngày 06/12/2002, cập nhật ngày 18/3/2008 (HĐTC số 00277 công chứng tại Văn phòng C, số chứng thực 005072, quyển số 09/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận A, Tp . ngày 28/9/2021).

2. Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100278 ngày 24/9/2021 (HĐTC 00278):

  • Bên thế chấp: Ông Võ Văn S1 và bà Huỳnh Thị N1
  • Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ tại Thửa đất số 800, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất: 243 TA32 tại phường T, Quận A, Tp . theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CG 959762, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CS06905 do Sở T1 cấp ngày 18/4/2017 (HĐTC số 00278 công chứng tại Văn phòng C, số chứng thực 005074, quyển số 09/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ1, Tp. ngày 28/9/2021)

3. Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100458 ngày 22/12/2021 (HĐTC số 00458):

  • Bên thế chấp: Công ty TNHH T
  • Tài sản thế chấp: xe ô tô con pickup nhãn hiệu GMC, đặc điểm kỹ thuật: xe ô tô 5 chỗ, màu sơn: trắng, số khung: 3GTU2PEC6GG232387, số máy: 1KTGG232387, biển số đăng ký 51K-005.60 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50060887 do Phòng C1 Công an T2 cấp ngày 27/10/2021 (HĐTC số 00458 công chứng tại Văn phòng C, số chứng thực 008429, quyển số 12/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/12/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp . ngày 22/12/2021).

Quá trình thực hiện HĐTD số 443, phía bị đơn Công ty T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. A đã nhiều lần làm việc trực tiếp yêu cầu thanh toán nợ, có công văn Thông báo nhắc nợ. Tuy nhiên đến nay, Công ty T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ toàn bộ nợ gốc và lãi quá hạn cho A, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

1. Buộc Công ty T phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho A theo Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443 ngày 24/9/2021 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng ngày 23/12/2021 tính đến hết ngày 22/8/2024 là 38.146.761.787 đồng, trong đó:

  • Dư nợ gốc: 30.498.948.079 đồng;
  • Tổng nợ lãi: 7.647.813.708 đồng, cụ thể:
    • + Nợ lãi trong hạn: 5.056.224.239 đồng;
    • + Nợ lãi quá hạn: 2.125.958.749 đồng;
    • + Lãi chậm trả: 465.630.720 đồng.

Yêu cầu bị đơn thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Buộc Công ty T phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng kể từ ngày 23/8/2024 cho đến ngày thực tế Công ty T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.

3. Trường hợp Công ty T không thanh toán số tiền nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp là các bất động sản và động sản đã nêu theo 03 Hợp đồng thế chấp đã ký gồm Hợp đồng thế chấp số 00277, số 00278 và số 00458 theo quy định pháp luật để A thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết nợ, Công ty T phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền còn thiếu cho đến khi thanh toán đầy đủ cho A.

4. Yêu cầu bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn chi phí thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thế chấp là 45.000.000 đồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định cho bị đơn, đại diện pháp luật của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng các đương sự nói trên đều vắng mặt, cũng không gửi bản tự khai trình bày ý kiến của mình liên quan đến tranh chấp, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được.

Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn trình bày: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn S và bà Huỳnh Thị N1 vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận tuân theo đúng pháp luật tố tụng về việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thu thập chứng cứ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành theo đúng trình tự tố tụng, các đương sự chấp hành tốt quy định pháp luật về tố tụng. Về nội dung, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng N2 khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty TNHH T thanh toán tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443. Xét đây là tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng cấp tín dụng giữa A với doanh nghiệp, là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thẩm quyền: Tại Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443, ACông ty T thống nhất giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền tại nơi đóng trụ sở của A Chi nhánh P1 hoặc do A Chi nhánh P1 lựa chọn, A - Chi nhánh P1 lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, nên Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[1.3] Về thủ tục tố tụng và sự có mặt, vắng mặt của các đương sự:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ kết quả xác minh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố T1, Công ty TNHH T có địa chỉ đăng ký kinh doanh tại Tầng C, P Khu I, Tòa nhà T, số A N, phường A, quận P, Tp .. Căn cứ kết quả xác minh của Công an P2, quận P, Công ty T không thực tế hoạt động tại địa chỉ trụ sở đã đăng ký. Căn cứ kết quả xác minh của Công an xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Phòng, đại diện pháp luật của bị đơn ông Vũ Văn Đ có đăng ký thường trú tại địa chỉ Thôn Đ, xã Đ, huyện K, Tp . nhưng hiện đi đâu không rõ. Căn cứ kết quả xác minh của Công an phường T, Quận A, Tp ., người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Võ Văn S1 và bà Huỳnh Thị N1 có hộ khẩu thường trú tại 5 Khu phố C, phường T, quận A, Tp ., hiện đang cư trú tại

địa chỉ trên. Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại địa chỉ đăng ký kinh doanh của bị đơn, địa chỉ hộ khẩu thường trú của người đại diện theo pháp luật của bị đơn, cũng như tại nơi cư trú của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản trình bày bất kỳ ý kiến gì liên quan đến quyền, lợi ích của mình trong vụ án này

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày bất kỳ ý kiến gì liên quan đến quyền, lợi ích của mình trong vụ án này, là đã từ chối quyền trình bày ý kiến về quyền, lợi ích hợp pháp của mình đối với tranh chấp. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo những chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp theo yêu cầu của Nguyên đơn:

[2.1] Đối với số nợ gốc:

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443 ngày 24/9/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng ngày 23/12/2021 giữa A với Công ty T thì Hợp đồng tín dụng giữa các bên là Hợp đồng tín dụng theo hạn mức, có lãi suất và có tài sản đảm bảo, mục đích vay là bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2021 - 2022 cho bị đơn. Bị đơn đã nhận tiền giải ngân theo 14 Giấy nhận nợ (GNN):

  1. GNN số 1604LDS202200468 ngày 08/4/2022;
  2. GNN số 1604LDS202200618 ngày 05/5/2022;
  3. GNN số 1604LDS202200621 ngày 06/5/2022;
  4. GNN số 1604LDS202200715 ngày 23/5/2022;
  5. GNN số 1604LDS202200718 ngày 24/5/2022;
  6. GNN số 1604LDS202200790 ngày 03/6/2022;
  7. GNN số 1604LDS202200798 ngày 06/6/2022;
  8. GNN số 1604LDS202200890 ngày 22/6/2022;
  9. GNN số 1604LDS202200895 ngày 23/6/2022;
  10. GNN số 1604LDS202200958 ngày 07/7/2022;
  11. GNN số 1604LDS202200965 ngày 08/7/2022;
  12. GNN số 1604LDS202201049 ngày 26/7/2022;
  13. GNN số 1604LDS202201055 ngày 24/8/2022;
  14. GNN số 1604LDS202201217 ngày 25/8/2022.

với tổng số tiền đã giải ngân là 30.498.948.079 đồng. Sau khi vay vốn, Công ty T đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, tính đến hết ngày 22/8/2024, dư nợ gốc chưa trả là 30.498.948.079 đồng. Nội dung Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-

202100443 giữa A với Công ty T là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, nên có hiệu lực pháp luật. Đối chiếu số tiền nợ gốc đã giải ngân và số tiền nợ gốc bị đơn chưa trả, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc nêu trên là có căn cứ, do vậy Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

[2.2] Về số tiền nợ lãi: nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443 tính đến hết ngày 22/8/2024 là 7.647.813.708 đồng. Cụ thể, lãi cho vay trong hạn ưu đãi là 7,5%/ năm trong thời gian ưu đãi lãi suất theo các giấy nhận nợ (tối đa 06 tháng hoặc chấm dứt khi bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán), lãi suất trong hạn theo Hợp đồng là 8%/năm, nợ lãi quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 4 của Hợp đồng tín dụng. Xét thấy, mức lãi suất này đã được các bên thỏa thuận, phù hợp với quy định tại Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 23/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký. Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn A về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH T thanh toán số nợ tính đến hết ngày 22/8/2024 là: 38.146.761.787 đồng, trong đó: Nợ gốc: 30.498.948.079 đồng, nợ lãi: 7.647.813.708 đồng, các khoản lãi phát sinh từ ngày 23/8/2024 theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443 cho đến khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho nguyên đơn.

[2.3] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần số nợ trên. Hội đồng xét xử xét thấy: bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo cho nguyên đơn như thỏa thuận trong Hợp đồng hai bên đã ký, việc này làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này.

[2.4] Về yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là các bất động sản và động sản đã nêu theo 03 Hợp đồng thế chấp gồm: Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100277, Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100278 và Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100458 để nguyên đơn thu hồi nợ, và yêu cầu trong trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì bị đơn phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, Hội đồng xét xử nhận định:

  • Hợp đồng thế chấp bất động sản số 1604-LCP-202100277 ký ngày 24/9/2021 giữa A và ông Võ Văn S1, được công chứng tại Văn phòng C, chứng thực số 005072, quyển số 09/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2021, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/9/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đ1, Tp., tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ tại thửa đất số 184-3, tờ bản đồ số 4A (sơ đồ nền), địa chỉ thửa đất: 53/3 Khu phố C, phường T, quận A, Tp . theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1718 do UBND quận A1 cấp ngày 06/12/2002, cập nhật ngày 18/3/2008.
  • Hợp đồng thế chấp bất động sản số 1604-LCP-202100278 ký ngày 24/9/2021 giữa A và ông Võ Văn S1 và bà Huỳnh Thị N1, đã được công chứng tại Văn phòng C, chứng thực số 005074, quyển số 09/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2021, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/9/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đ1, Tp., trong đó tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ tại Thửa đất số 800, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất: 243 TA32 tại phường T, Quận A, Tp . theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CG 959762, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 12124 do Sở T1 cấp ngày 18/4/2017.

Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100277 và số 1604-LCP-202100278 có nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 293, 294, 295 và 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp luật.

  • Hợp đồng thế chấp tài sản số 1604-LCP-202100458 ký ngày 22/12/2021 giữa ACông ty T, đã được công chứng tại Văn phòng C, chứng thực số 008429, quyển số 12/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/12/2021, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 22/12/2021 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Tp ., trong đó tài sản thế chấp là xe ô tô con pickup nhãn hiệu GMC, đặc điểm kỹ thuật: xe ô tô 5 chỗ, màu sơn: trắng, số khung: 3GTU2PEC6GG232387, số máy: 1KTGG232387, biển số đăng ký 51K-005.60 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50060887 do Phòng C1 Công an T2 cấp ngày 27/10/2021.

Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100458 có nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 293, 294, 295 và 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp luật.

Do bị đơn Công ty TNHH T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với A, căn cứ Điều 299 và 323 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu của nguyên đơn về việc được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp, và trong trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ, thì bị đơn phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ các nhận định ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn A là có cơ sở chấp nhận, đồng thời cũng phù hợp với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tại phiên tòa.

[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn không phải chịu án phí. H lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền trên, nên căn cứ Điều 157, Điều 158

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 91, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 293, Điều 294, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 324 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Căn cứ Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
  • Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N2:

1.1 Buộc Công ty TNHH T có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho Ngân hàng N2 theo Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443 ngày 24/9/2021 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng ngày 23/12/2021 tính đến hết ngày 22/8/2024 là 38.146.761.787 (ba mươi tám tỷ một trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi mốt ngàn bảy trăm tám mươi bảy) đồng, trong đó: Nợ gốc: 30.498.948.079 (ba mươi tỷ bốn trăm chín mươi tám triệu chín trăm bốn mươi tám ngàn không trăm bảy mươi chín) đồng; Nợ lãi: 7.647.813.708 (bảy tỷ sáu trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm mươi ba ngàn bảy trăm lẻ tám) đồng.

Thi hành một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202100443 ngày 24/9/2021.

1.2 Ngay sau khi Công ty TNHH T thanh toán hết nợ cho Ngân hàng N2 thì Ngân hàng N2 có trách nhiệm trả lại cho Bên thế chấp toàn bộ các giấy tờ tài sản thế chấp được ghi nhận tại Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100277; Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100278 và Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202100458.

1.3 Trường hợp Công ty TNHH T không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng N2 thì Ngân hàng N2 được quyền yêu cầu cơ quan

Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, tài sản thế chấp là:

  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ tại thửa đất số 184-3, tờ bản đồ số 4A (sơ đồ nền), địa chỉ thửa đất: 53/3 Khu phố C, phường T, quận A, Tp. theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1718 do UBND quận A1 cấp ngày 06/12/2002, cập nhật ngày 18/3/2008.
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ tại Thửa đất số 800, tờ bản đồ số 14, địa chỉ thửa đất: 243 TA32 tại phường T, Quận A, Tp. theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CG 959762, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CS06905 do Sở T1 cấp ngày 18/4/2017.
  • Xe ô tô con pickup nhãn hiệu GMC, đặc điểm kỹ thuật: xe ô tô 5 chỗ, màu sơn: trắng, số khung: 3GTU2PEC6GG232387, số máy: 1KTGG232387, biển số đăng ký 51K-005.60 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50060887 do Phòng C1 Công an T2 cấp ngày 27/10/2021.

1.4 Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp của Công ty TNHH T vẫn không đủ để trả hết nợ cho Ngân hàng N2 thì Công ty TNHH T có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán số nợ còn lại cho Ngân hàng N2 cho đến khi trả hết nợ.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 146.146.762 đồng (một trăm bốn mươi sáu triệu một trăm bốn mươi sáu ngàn bảy trăm sáu mươi hai) đồng Công ty TNHH T chịu.

H lại cho Ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án phí là 72.235.000 đồng (bảy mươi hai triệu hai trăm ba mươi lăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0032332 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Công ty TNHH T phải trả lại cho Ngân hàng N2 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

5. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Phú Nhuận;
  • - CCTHADS Q.Phú Nhuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Minh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 868/2024/KDTM-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 868/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Trường Hà có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho Agribank theo Hợp đồng tín dụng đã ký.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger