Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 867/2024/DS-PT

Ngày: 27 – 9 - 2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín

dụng, tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn

Các thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng

Ông Phan Nhựt Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 439/2024/TLPT - DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS –ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1089/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1)

Trụ sở: Số A, 21, 23, 25 đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Phạm Quang T, chức vụ: Tổng Giám đốc. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H, chức vụ: Phó Tổng Giám đốc. (vắng mặt)

Ông Nguyễn Thành H1 ủy quyền cho ông Trần Văn V, chức vụ: Phó Giám đốc Khối xử lý nợ.

Ông Dương Kiện Đ ủy quyền cho: Ông Lưu Chấn N: Chuyên viên xử lý nợ; Ông Trần Nhứt L, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ và bà Phạm Kim Minh N1, chức vụ: Nhân viên khách hàng cá nhân – Chi nhánh T8

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1980 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: ấp Chánh Hội A, xã Ngãi Hùng, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh

  3. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1951 (đã chết)
  4. Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T1 gồm:

    • 2.1 Anh Trương Văn D, sinh năm 1974 (vắng mặt)
    • 2.2 Chị Trương Thị Đ1, sinh năm 1976 (vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: ấp Chánh Hội A, xã Ngãi Hùng, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh

  5. Bà Trương Thị T2, sinh năm 1952 (vắng mặt)
  6. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1978 (vắng mặt)
  7. Anh Nguyễn Thành T4, sinh năm 1986 (vắng mặt)
  8. Cùng địa chỉ: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

  9. Anh Trương Văn D, sinh năm 1974 (vắng mặt)
  10. Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

  11. Ông Trương Hữu A, sinh năm 1948 (vắng mặt)
  12. Địa chỉ: ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

  13. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt)
  14. Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt)
  15. Huỳnh Nguyễn Tấn N2, sinh năm 2007 (vắng mặt)
  16. Huỳnh Nguyễn Tấn L3, sinh năm 2009 (vắng mặt)
  17. Cùng địa chỉ: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Ngày 29/6/2018, anh Nguyễn Văn L1 với Ngân hàng có ký hợp đồng thỏa thuận vay ngắn hạn số [...] cho anh L1 vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất nông nghiệp, lãi xuất cho vay: 9%/năm; lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất áp dụng cho tiền chậm thanh toán trong hạn không vượt quá 10%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay tiền trên, ông Nguyễn Văn T5, bà Trương Thị T2 và anh Nguyễn Văn L1 có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: [...]/HĐTC – SCB – PGDNĐ.18 ngày 29/6/2018, đồng ý thế chấp thửa đất số 196, diện tích 5.790m², tọa lạc ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: BV 415861, số vào sổ cấp GCN CH01215 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 14/10/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn T5.

Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 13/01/2021 anh L1 đã trả được số tiền 108.695.942 đồng (trong đó tiền gốc là 75.050.000 đồng, lãi trong hạn 27.000.001 đồng, lãi quá hạn 6.546.575 đồng, phạt lãi chậm trả 99.366 đồng). Nay anh L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi nên Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn anh Nguyễn Văn L1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 19/4/2024 số tiền 370. 590.201 đồng (trong đó vốn gốc 224.950.000 đồng, lãi quá hạn 145.640.201 đồng) và yêu cầu anh L1 phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng thỏa thuận vay ngắn hạn số [...], ngày 29/6/2018 từ ngày 20/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp anh Nguyễn Văn L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 196, diện tích 5.790m², tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp Chánh Hội A, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh và tài sản có trên đất theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: [...]/HĐTC – SCB – PGDND.18 ngày 29/6/2018 để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn L1 trình bày: Anh thừa nhận có vay Ngân hàng TMCP S số tiền trên và đồng ý trả số tiền gốc còn lại và lãi theo yêu cầu của Ngân hàng. Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: [...]/HĐTC – SCB – PGDNĐ.18 ngày 29/6/2018 thế chấp thửa đất 196, anh thừa nhận có ký vào hợp đồng trên. Nay Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là thửa đất 196 thì anh yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị T2 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn T5 (đã chết), bà với ông T5 có các người con gồm: Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị L2, ông Nguyễn Thành T4 và Nguyễn Văn L1. Bà và ông T5 có ký vào hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: [...]/HĐTC – SCB – PGDNĐ.18 ngày 29/6/2018 thế chấp thửa đất số 196 để đảm bảo cho khoản vay của anh L1 tại Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi thì để anh L1 giải quyết, còn về xử lý tài sản thế chấp đề nghị Tòa án xem xét theo quy định pháp luật.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L2 trình bày: Chị là con của Nguyễn Văn T5 và bà Trương Thị T2, trên thửa đất 196 có 01 căn nhà của chị do Công giày da Mỹ P hỗ trợ, do chị không có đất nên cha, mẹ chị có cho chị diện tích đất xây nhà, qua đo đạc diện tích mà chị xây nhà sử dụng là 251m² (phần ký hiệu C), căn nhà của chị sử dụng chung 01 vách tường với căn nhà của cha mẹ chị (vách tường này của cha chị xây), căn nhà của chị cất trước khi cha, mẹ chị ký thế chấp thửa đất 196 để bảo đảm bảo cho khoản vay của anh L1 tại Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu buộc anh Nguyễn Văn L1 trả tiền vốn vay và lãi cho Ngân hàng thì để anh L1 giải quyết; chị có yêu cầu độc lập yêu cầu công nhận cho chị diện tích đất 251m² (phần ký hiệu C), nằm 01 phần trong thửa số 196 vì diện tích đất này cha, mẹ chị đã cho chị.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành T4, chị Nguyễn Thị T3 trình bày: Anh, chị là con của Nguyễn Văn T5 và bà Trương Thị T2, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: [...]/HĐTC – SCB – PGDNĐ.18 ngày 29/6/2018 anh, chị không có ký tên. Nay Ngân hàng yêu cầu buộc anh Nguyễn Văn L1 trả tiền vốn vay và lãi cho Ngân hàng thì để anh L1 giải quyết. Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng đối với thửa đất 196 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Anh Trương Văn D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Cha mẹ anh bà Nguyễn Thị T1 và ông Trương Hữu A có 02 người con gồm: Trương Văn D và Trương Thị Đầm . Nguồn gốc thửa đất số 196 là của ông bà nội anh cho cha mẹ anh và cho cô của anh là bà Trương Thị T2 mỗi người ½ diện tích, cho trước năm 1980. Qua đo đạc thực tế thì gia đình anh sử dụng diện tích 2.208,6m² (phần ký hiệu B). Nay anh không đồng ý cho Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp phần diện tích đất 2.208,6m² (phần ký hiệu B) nằm trong thửa đất 196 mà anh đang quản lý, sử dụng và có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất trên cho anh và em anh là chị Trương Thị Đầm . Đối với phần diện tích 264.6m² (phần ký hiệu G) nằm trong thửa 196 anh xin rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Chị Trương Thị Đ1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Chị thống nhất với lời trình bày của anh Trương Văn D và yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất 2.208,6m² (phần ký hiệu B) nằm trong thửa đất 196 cho chị và anh D. Đối với phần diện tích 264.6m² (phần ký hiệu G) nằm trong thửa 196 chị xin rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trương Hữu A trình bày: Trước đây ông là chồng của bà Nguyễn Thị T1, ông với bà T1 có 02 người con chung là Trương Văn D và Trương Thị Đ1, ông với bà T1 đã ly hôn vào năm 1992. Trước đây cha mẹ ông là ông Trương Văn M và bà Trương Thị H2 có cho ông và bà Thích phần đất hiện nay con ông Trương Văn D đang quản lý, sử dụng nằm trong thửa 196. Nay ông cũng đồng ý giao phần đất này cho con ông là Trương Văn D quản lý, sử dụng, ông không có yêu cầu gì phần đất này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã N trình bày: Đối với diện tích đất làm đường bê tông 112.5m² phần (K) nằm thửa 196, tọa lạc ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, trước đây do gia đình ông Nguyễn Văn T5 hiến đất làm đường, chưa được thu hồi đúng theo quy định, đề nghị Tòa án khi giải quyết chừa lại diện tích làm đường bê tông 112.5m² phần (K) và yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Trần Nhứt L người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Trương Văn D vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập đối với phần diện tích đất 2.208,6m² (phần ký hiệu B); đối với phần diện tích đất 264.6m² (phần ký hiệu G) anh xin rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vụ án phát sinh, địa phương và tòa án hòa giải không thành nên đưa ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS –ST ngày 19/4/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:

Căn cứ các Điều 26, 34, 37, 38, 39, 147, 157, 228, 244, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 323, 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Án lệ số: 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1).
  2. Buộc anh Nguyễn Văn L1 trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/4/2024) là 370.590.201 đồng (trong đó vốn gốc 224.950.000 đồng, lãi quá hạn 145.640.201 đồng).

    Kể từ ngày 20/4/2024, anh Nguyễn Văn L1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất quá hạn mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng thỏa thuận vay ngắn hạn số [...] ngày 29/6/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông L1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp anh Nguyễn Văn L1 không thanh toán khoản nợ nêu trên, Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với phần diện tích đất 3.253,8m2 (phần ký hiệu A, C, D, H) thuộc một phần thửa đất 196 (nay là thửa 45), tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp Chánh Hội A, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 4, cây trồng trên đất và các tài sản khác (nếu có) của bà Trương Thị T2, ông Nguyễn Văn T5 để thu hồi nợ. Phần diện tích đất 3.253,8m2 (phần ký hiệu A, C, D, H) có vị trí, tứ cận như sau:

    • Phần diện tích 2.318,6m2 (phần ký hiệu A, C, D):
      • - Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa 196 (giáp phần K) có 04 đoạn: Đoạn có chiều dài 10,6m, đoạn có chiều dài 23,06m, đoạn có chiều dài 7,2m, đoạn có chiều dài 25,27m.
      • - Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa 196 (giáp phần B) có 03 đoạn: Đoạn có chiều dài 29,56m, đoạn có chiều dài 7,2m, đoạn có chiều dài 29,9m.
      • - Hướng Nam giáp đường đất (giáp phần E) có chiều dài 36,32m.
      • - Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa 196 (giáp phần H) có chiều dài 34,85m.
      • (Có Sơ đồ khu đất kèm theo)
    • Phần diện tích 935,2m2 (phần ký hiệu H):
      • - Hướng Đông giáp đường bê tông có chiều dài 14,88m.
      • - Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa 196 (giáp phần G) có chiều dài 12,23m.
      • - Hướng Nam giáp phần còn lại của thửa 196 (giáp phần B, A) có 02 đoạn: Đoạn có chiều dài 33,3m, đoạn có chiều dài 34,85m
      • - Hướng Bắc giáp thửa 36 có chiều dài 68,25m.
      • (Có Sơ đồ khu đất kèm theo)

    Khi xử lý tài sản thế chấp đối với phần diện tích đất 3.253,8m2 (phần ký hiệu A, C, D, H) trên thì chị Nguyễn Thị L2 được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng phần diện tích đất này nếu như có nhu cầu.

  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Trương Văn D, chị Trương Thị Đ1 (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T1).
  4. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T5 vào ngày 14/10/2014 đối với thửa đất số 196 (nay là thửa 45), diện tích 5.790m2, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp Chánh Hội A, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

    Công nhận cho anh Trương Văn D, chị Trương Thị Đ1 được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 2.208,6m2 (phần ký hiệu B), loại đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa đất số 196 (nay là thửa 45), tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp Chánh Hội A, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Đất có vị trí, tứ cận như sau:

    • - Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa 196 (giáp phần A, C, D) có 03 đoạn: Đoạn có chiều dài 29,56m, đoạn có chiều dài 7,2m, đoạn có chiều dài 29,9m.
    • - Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa 196 (giáp phần G) có chiều dài 68,39m.
    • - Hướng Nam giáp đường đất (giáp phần E) có chiều dài 32,15m.
    • - Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa 196 (giáp phần H) có chiều dài 33,3m.
    • (Có Sơ đồ khu đất kèm theo)

    Anh Trương Văn D, chị Trương Thị Đ1 được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục kê khai, đăng ký để được cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được công nhận trên theo quyết định của bản án này.

  5. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T1 (anh Trương Văn D, chị Trương Thị Đ1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) yêu cầu công nhận phần diện tích diện tích 264,6m2 (Phần ký hiệu G), thuộc một phần thửa đất số 196 (nay là thửa 45), tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp Chánh Hội A, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  6. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị L2 yêu cầu Tòa án công nhận cho chị L2 được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 251m2 (Phần ký hiệu C), thuộc một phần thửa đất số 196 (nay là thửa 45), tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp Chánh Hội A, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  7. Về lệ phí thẩm định: Buộc anh Nguyễn Văn L1 phải chịu số tiền 4.585.000đồng. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) nộp tạm ứng số tiền 4.585.000đồng nên buộc anh L1 phải nộp lại số tiền 4.585.000 đồng để trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1).
  8. Về lệ phí trích lục thông tin địa chính: Số tiền 517.000 đồng, anh Trương Văn D tự nguyện chịu số tiền này nhưng do anh D đã nộp tạm ứng số tiền 517.000 đồng nên anh D không phải nộp tiếp.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự và quyền kháng cáo.

Ngày 02/5/2024, Nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm với nội dung: yêu cầu sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành mặc dù được triệu tập hợp hệ đến lần 2 vẫn vắng mặt, không có lý do.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng có cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới nhưng xét tài liệu chứng cứ không làm thay đổi bản chất vụ án nên đề nghị bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định, về hình thức hợp lệ được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn; yêu cầu yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 (Trương Văn D và Trương Thị Đ1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng); yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L2, cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp quyền sử dụng đất” là phù hợp.

[1.3] Về thẩm quyền giải quyết: Do có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T5 đối với thửa đất số 196, diện tích 5.790m², tọa lạc ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào Điều 26, Điều 37, Điều 38, Điều 39, khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

[1.4] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần 2, không có lý do, căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt những đương sự trên.

[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn.

[2.1] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn L1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 19/4/2024 số tiền 370.590.201 đồng (trong đó vốn gốc 224.950.000 đồng, lãi quá hạn 145.640.201 đồng) và yêu cầu Nguyễn Văn L4 phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng thỏa thuận vay ngắn hạn số [...], ngày 29/6/2018 từ ngày 20/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng, Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Điều 466 Bộ luật Dân sự nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là có căn cứ đúng pháp luật. Phần này của bản án không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

[2.2] Ông Trương Văn D và bà Trương Thị Đ1 rút lại yêu cầu độc lập đối với phần diện tích 264,6m2 (Phần ký hiệu G) thuộc một phần thửa 196 nên cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này là đúng quy định của pháp luật. Các đương sự không kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền không kháng nghị nên phần này đã có hiệu lực pháp luật.

[2.3] Xét yêu cầu độc lập của Trương Văn D và Trương Thị Đ1 (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T1) yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất 2.208,6m2 (phần ký hiệu B):

Thửa đất số: 196, tờ bản đồ số 5, diện tích 5.790 m² được UBND huyện T cấp ngày 14/10/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn T5. Tuy nhiên các thành viên trong hộ ông T5 ( gồm vợ và con) đều khẳng định trên thửa đất 196 phần diện tích đất ký hiệu (B) là của gia đình bà T1 sử dụng, có ranh giới rõ ràng, đồng ý làm thủ tục tách thửa đối với phần diện tích trên cho bà T1. Thừa nhận: Thửa đất số 196 trên có nguồn gốc là của cha mẹ ruột bà Trương Thị T2, ông Trương Hữu A là cụ Trương Văn M, cụ Nguyễn Thị H3 cho vợ chồng bà T2, ông T5 và vợ chồng ông A, bà T1 mỗi người một phần vào khoảng năm 1980. Từ khi được cha mẹ cho đất thì hai bên gia đình sử dụng phần diện tích đất mình được cho cho đến nay. Các anh em ruột của bà T2, ông A như ông Trương Văn H4, ông Trương Văn H5 và người dân, chính quyền địa phương như ông Dương Văn T6 (Trưởng ban N3), ông Đoàn Văn M1 (nguyên Trưởng ban nhân dân và Bí thư ấp N3), ông Lâm Thành Ý xác nhận sự việc này (BL 289 - 298). Theo biên bản thẩm định ngày 26/7/2022 thể hiện phần diện tích đất 2.208,6m2 (phần ký hiệu B) do bà Nguyễn Thị T1 cùng con là anh Trương Văn D quản lý, sử dụng trên đất có 25 cây dừa trên 25 năm tuổi, 13 cây dừa từ 03 – 07 năm tuổi, 37 cây dừa từ 02 – 03 năm tuổi (BL 86 - 90).

Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/02/2024 (BL 279), bà Phạm Kim Minh N1 và ông Trần Nhứt L. Tại phiên tòa sơ thẩm ông Trần Nhứt L cho rằng khi nhận thế chấp thửa đất 196, phía Ngân hàng có tiến hành thẩm định thửa đất 196 nhưng không có làm biên bản thẩm định với người quản lý, sử dụng đất mà chỉ có lập Tờ trình thẩm định của Ngân hàng và chụp hình ảnh tài sản thế chấp.

Như vậy căn cứ vào kết quả đo đạc, biên bản thẩm định tại chỗ, lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trương Văn D và bà Trương Thị Đ1 (con của bà Nguyễn Thị T1) là có căn cứ pháp luật

[2.4] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là toàn bộ thửa đất số 196 (nay là thửa 45), diện tích 5.790m², tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp Chánh Hội A, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh và tài sản có trên đất để thu hồi nợ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Công văn số: 1379/CNHTC – KTĐC ngày 04/10/202 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh huyện T và Sơ đồ khu đất kèm theo về việc cung cấp kết quả khảo sát, thẩm định thửa đất 196 thể hiện: Phần đất gia đình bà Trương Thị T2, ông Nguyễn Văn T5 sử dụng diện tích là 3.253,8m² (phần ký hiệu A, C, D, H); Phần đất gia đình bà Nguyễn Thị T1 sử dụng là 2.208,6m² (phần ký hiệu B); Phần diện tích 264,6m² (phần ký hiệu G) là phần sử dụng sai ranh với hộ dân liền kề; Phần ký hiệu K (112,5m²) là phần đường bê tông (BL 94 – 95).

Phân tích về yêu cầu độc lập của ông D và bà Đầm M2 [2.3]

Từ đó cấp sơ thẩm kết luận: Ngân hàng khi nhận thế chấp thửa đất 196 không thẩm định, xem xét kỹ thửa đất 196 trên thực trạng có những ai đang quản lý, sử dụng đất. Ngân hàng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh bà Nguyễn Thị T1, anh Trương Văn D biết việc thế chấp thửa đất 196 này của ông T5, bà T2, anh L1. Trong trường hợp này, Ngân hàng không phải là người thứ ba ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: [...]/HĐTC – SCB – PGDNĐ.18 ngày 29/6/2018 được ký kết giữa ông Nguyễn Văn T5, bà Trương Thị T2 và anh Nguyễn Văn L1 với Ngân hàng vô hiệu một phần đối với phần diện tích 2.208,6m² (phần ký hiệu B) mà gia đình bà T1, anh D quản lý, sử dụng là có căn cứ.

Trên phần diện tích 3.253,8m² (ký hiệu A, C, D, H) hiện nay có căn nhà cấp 4 của ông T7, bà T2 và căn nhà cấp 4 của chị L2. Như vậy trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình thì phần tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của người sử dụng đất vẫn thuộc tài sản đảm bảo thế chấp. Đối với tài sản trên đất không thuộc sở hữu của người sử dụng đất thì tài sản này không thuộc tài sản đảm bảo, trường hợp này khi xử lý quyền sử dụng đất thì người có tài sản trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Cấp sơ thẩm căn cứ vào Án lệ số: 11/2017/AL ngày 14 tháng 12 năm 2017, trường hợp anh L1 không thanh toán khoản nợ nêu trên, Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với phần diện tích đất 3.253,8m² (phần ký hiệu A, C, D, H) thuộc một phần thửa đất 196, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 4 của bà T2, ông T5, cây trồng trên đất, các tài sản khác của ông T5, bà T2 (nếu có) để thu hồi nợ. Khi xử lý tài sản thế chấp phần diện tích đất 3.253,8m² (phần ký hiệu A, C, D, H) thì chị L2 được dành quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng phần diện tích đất 3.253,8m² (phần ký hiệu A, C, D, H) trên nếu chị L2 có nhu cầu nhận chuyển nhượng.

[2.5] Đối yêu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị L2 yêu cầu Tòa án công nhận cho chị quản lý, sử dụng diện tích đất 251m² (Phần ký hiệu C): Như nhận định trên, phần diện tích đất 251m² (Phần ký hiệu C) nằm trong phần diện tích đất ông Nguyễn Văn T5, bà Trương Thị T2 được cụ M, cụ H6 cho. Chị L2 cho rằng được ông T5, bà T2 cho chị phần diện tích 251m² (Phần ký hiệu C) nhưng chưa được ông T5, bà Thới làm hợp đồng tặng cho theo quy định của pháp luật, chị L2 chưa được cấp quyền sử dụng phần diện tích đất này nên việc bà T2, ông T5 thế chấp phần diện tích 251m² (phần ký hiệu C) để đảm bảo cho khoản vay của anh L1 là có hiệu lực. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị L2 là có căn cứ. Phần này không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên liên quan đến kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy: cấp sơ thẩm xác định khi Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp phần diện tích đất 3.253,8m2 (phần ký hiệu A, C, D, H) thì chị L2 được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng phần diện tích đất này là phù hợp.

[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm nguyên đơn phải nộp do kháng cáo không được chấp nhận.

[5] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 6 Điều 313; Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

  1. Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP S (S1); Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS –ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003971 ngày 03/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, đương sự đã thực hiện xong.
  3. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Đương sự (9)
  • - Lưu VP(3), HS(2). 25b-TTPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Trí Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 867/2024/DS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 867/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) kiện Anh Nguyễn Văn L về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB); Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS –ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger