|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 866/2024/DS-ST
Ngày: 29/10/2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Kim Phượng
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lương
- Bà Hoàng Thị Kim Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quế Chi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 819/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 507/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C; trụ sở: Số A T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Ông Lê Văn T2, sinh năm 1976; địa chỉ: 1 H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị T3, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu tập thể T, Ấp A, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin vắng mặt).
- Công ty TNHH T4; Trụ sở: Hado A Hồ N, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1985; Ông Trần Xuân T1, sinh năm 1988 (Theo văn bản ủy quyền số 1531/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT1 ngày 21/12/2022) (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Xuân Đ, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện T, Thành phố Hải Phòng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần C (sau đây gọi là Ngân hàng) và ông Lê Văn T2 có ký kết Hợp đồng cho vay số 169/2021-HĐCV/NHCT704 ngày 08/6/2021; mục đích cho vay là thanh toán chi phí đã ứng vốn chủ sở hữu để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 723, Tờ bản đồ số 48, địa chỉ: xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ nhu cầu đời sống. Thời hạn cho vay là 240 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên.
Thực hiện Hợp đồng trên, Ngân hàng đã giải ngân với số tiền là 7.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy tỷ đồng) cho ông T2 theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 09/6/2021. Lãi suất vay vốn: Thả nổi hiện tại 11%/năm. Lãi suất vay vốn ưu đãi 9%/năm, thời hạn áp dụng 12 tháng cho đến ngày 09/6/2022 theo Chương trình tín dụng “Lãi suất ưu đãi – Vững chãi tương lại” quy định trong công văn số 6870/TGĐ-NHCT63+62+3 ngày 25/9/2019. Đến ngày xác định lãi suất, lãi suất ưu đãi theo Chương trình tín dụng có thể được điều chỉnh theo thông báo của bên cho vay. Hết thời hạn áp dụng hoặc khi bên vay không đáp ứng được điều kiện của chương trình hoặc Bên cho vay chấm dứt chương trình tín dụng trước hạn thì lãi suất cho vay được xác định theo quy định tại điểm (a) khoản 2.01, Điều 2 Hợp đồng tín dụng.
Để đảm bảo cho hợp đồng cho vay nêu trên, bà Lê Thị T3 đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 534, Tờ bản đồ số 4, địa chỉ xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 25/5/2021, đăng ký giao dịch bảo đảm số 26618 ngày 25/5/2021.
Từ ngày 11/6/2022, ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ và toàn bộ khoản vay của ông T2 đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với bên vay, bên bảo đảm để thực thi các nghĩa vụ của mình, khắc phục vi phạm, tuy nhiên, ông T2 vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T2 phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay, tạm tính đến hết ngày 06/11/2023 là: 7.853.460.670 đồng (Bằng chữ: Bảy tỷ, tám trăm năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn, sáu trăm bảy mươi đồng), trong đó bao gồm nợ gốc: 6.678.800.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.151.844.430 đồng, nợ lãi quá hạn: 22.816.240 đồng và lãi tiếp tục phát sinh theo hợp đồng cho vay nêu trên cho đến khi Ngân hàng thu hồi hết toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp ông Lê Văn T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo bản án của Toà án, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 534, Tờ bản đồ số 4, địa chỉ xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cập nhật chuyển nhượng cho bà Lê Thị T3 ngày 13/5/2021, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 622351, số vào sổ cấp GCN: CH 07700 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/02/2020, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 25/5/2021, đăng ký giao dịch bảo đảm số 26618 ngày 25/5/2021 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn, ông Lê Văn T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Công ty TNHH T4 mặc dù đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập lên tòa trình bày ý kiến, thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa xét xử nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản tự khai ngày 06/3/2024, Biên bản làm việc ngày 06/3/2024 và quá trình làm việc tại Toà, bà Lê Thị T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà T3 xác định có ký Hợp đồng thế chấp số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 25/5/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704-SĐL01 ngày 07/6/2021 với Ngân hàng Thương mại cổ phần C để đảm bảo cho khoản vay của ông Lê Văn T2 và của Công ty TNHH T4 tại Ngân hàng. Ngoài ra, bà T3 không chịu thêm bất kỳ nghĩa vụ gì thêm ngoài tài sản này.
Bà T3 xác định tài sản trên là tài sản riêng của bà. Theo Văn bản thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ ngày 16/4/2023, bà T3 đã đồng ý bàn giao tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 25/5/2021 là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số tại địa chỉ xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để Ngân hàng thực hiện việc bán đấu giá tài sản, thu hồi khoản nợ của ông Lê Văn T2.
Tại phiên tòa hôm nay:
Ông Trần Xuân T1 là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C thống nhất trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Buộc ông Lê Văn T2 phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 29/10/2024 là: 8.651.484.018 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc: 6.678.800.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.919.448.978 đồng, nợ lãi quá hạn: 53.235.040 đồng và lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 30/10/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay cho đến khi trả hết nợ. Thời hạn trả: ngay sau khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp ông Lê Văn T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả khoản nợ trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 534, Tờ bản đồ số 4, địa chỉ xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Ông Lê Văn T2 là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Công ty TNHH T4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
Bà Lê Thị T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Pháp luật về tố tụng:
Ngân hàng Thương mại cổ phần C khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Lê Văn T2. Bị đơn ông Lê Văn T2 có địa chỉ cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự có mặt của các đương sự: Bà Lê Thị T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt. Ông Lê Văn T2 là bị đơn, Công ty TNHH T4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Văn T2, bà Lê Thị T3 và Công ty TNHH T4.
[2] Pháp luật về nội dung:
[2.1] Ngân hàng Thương mại cổ phần C khởi kiện yêu cầu ông T2 trả số tiền tạm tính đến ngày 29/10/2024 là: 8.651.484.018 (Tám tỷ, sáu trăm năm mươi mốt triệu, bốn trăm tám mươi bốn ngàn, không trăm mười tám) đồng, trong đó bao gồm nợ gốc: 6.678.800.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.919.448.978 đồng, nợ lãi quá hạn: 53.235.040 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh cho đến khi ông T2 thực hiện xong nghĩa vụ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ Hợp đồng cho vay số 169/2021-HĐCV/NHCT704 ngày 08/6/2021 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C và ông Lê Văn T2; Giấy nhận nợ số 01 ngày 09/6/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 25/5/2021 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C và bà Lê Thị T3 được chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/5/2021 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704-SĐL01 ngày 07/6/2021; Văn bản thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ ngày 16/4/2023; Bảng chiết tính và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định ông Lê Văn T2 có ký vay của Ngân hàng số tiền vay là 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng), khoản vay có thời hạn, có tài sản đảm bảo khoản vay.
Xét, Ngân hàng Thương mại cổ phần C là tổ chức tín dụng được cấp phép hoạt động, hợp đồng cho vay giữa Ngân hàng và ông T2 được ký kết trên cơ sở tự nguyện; việc thỏa thuận lãi vay, lãi trong hạn, quá hạn giữa các bên là phù hợp pháp luật theo quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 ông T2 có nghĩa vụ trả số tiền nợ vay nêu trên cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.
Đồng thời, ông T2 có nghĩa vụ tiếp tục tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 30/10/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay cho đến khi trả hết nợ.
[2.2] Thời hạn trả:
Ngân hàng Thương mại cổ phần C yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã lâu, Ngân hàng yêu cầu trả số tiền nợ ngay khi án có hiệu lực là có cơ sở nên được chấp nhận.
[2.3] Ngân hàng Thương mại cổ phần C yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ trên cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 25/5/2021 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C và bà Lê Thị T3 được chứng nhận số công chứng 002235 quyển số 01/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, được chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/5/2021 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704-SĐL01 ngày 07/6/2021. Theo hợp đồng, bà T3 thế chấp tài sản đảm bảo khoản vay là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, cập nhật chuyển nhượng cho bà Lê Thị T3 ngày 13/5/2021, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 622351, số vào sổ cấp GCN: CH 07700 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/02/2020.
Xét, hợp đồng thế chấp được ký kết trên cơ sở tự nguyện và thực hiện theo đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm (có ký hợp đồng thế chấp theo quy định và đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên việc thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, bà T3 cũng xác định có ký Hợp đồng thế chấp số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 25/5/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704-SĐL01 ngày 07/6/2021 với Ngân hàng Thương mại cổ phần C. Căn cứ Điều 299, khoản 7 Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 5 của Hợp đồng thế chấp thì trường hợp ông Lê Văn T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.
[2.4] Căn cứ Điều 307 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thỏa thuận của các bên khi thế chấp tài sản thì trường hợp phát mãi tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ, sau khi thực hiện xong tất cả nghĩa vụ phát sinh theo quy định mà giá trị tài sản thế chấp còn lại sau khi phát mãi không đủ thanh toán hết nợ cho Ngân hàng thì ông T2 tiếp tục trả cho đến khi hết nợ; trường hợp giá trị tài sản thế chấp còn lại sau khi phát mãi thừa thì được trả lại cho bà T3.
[2.5] Căn cứ Điều 322 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bên nhận thế chấp có trách nhiệm trả lại giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm dứt thế chấp, do đó ngay sau khi bị đơn trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C có nghĩa vụ thực hiện giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định và trả lại cho bà T3 giấy tờ tài sản thế chấp là bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 622351, số vào sổ cấp GCN: CH 07700 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/02/2020. Trừ trường hợp tài sản thế chấp này tiếp tục được đảm bảo nghĩa vụ khác tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng, xét đề nghị này có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm:
Do ông Lê Văn T2 có nghĩa vụ thanh toán tiền còn nợ cho Ngân hàng nên phải có nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 271; khoản 1 Điều 273, Điều 278; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các điều 299, 307, 317, 319, 320, 322, 323, 370, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Ngân hàng Thương mại cổ phần C:
- Buộc ông Lê Văn T2 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền 8.651.484.018 (Tám tỷ, sáu trăm năm mươi mốt triệu, bốn trăm tám mươi bốn ngàn, không trăm mười tám) đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 6.678.800.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 29/10/2024 là 1.972.684.018 đồng là nghĩa vụ phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 169/2021-HĐCV/NHCT704 ngày 08/6/2021 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C và ông Lê Văn T2.
- Ngay sau khi ông Lê Văn T2 trả hết nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C có nghĩa vụ thực hiện giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định và trả lại cho Lê Thị T3 bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 622351, số vào sổ cấp GCN: CH 07700 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/02/2020, cập nhật chuyển nhượng cho bà Lê Thị T3 ngày 13/5/2021. Trừ trường hợp tài sản thế chấp này tiếp tục được đảm bảo nghĩa vụ khác tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C.
- Trường hợp ông Lê Văn T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại cổ phần C được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 622351, số vào sổ cấp GCN: CH 07700 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/02/2020, cập nhật chuyển nhượng cho bà Lê Thị T3 ngày 13/5/2021) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704 ngày 25/5/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 153/2021/HĐBĐ/NHCT704-SĐL01 ngày 07/6/2021 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
- Quá trình phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C, sau khi thực hiện xong tất cả nghĩa vụ theo quy định mà giá trị tài sản thế chấp sau khi phát mãi không đủ thanh toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C thì ông Lê Văn T2 tiếp tục trả cho đến khi hết nợ. Trường hợp giá trị tài sản thế chấp sau phát mãi còn thừa thì được trả lại cho bà Lê Thị T3, trừ trường hợp tài sản thế chấp này tiếp tục được đảm bảo nghĩa vụ khác tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C.
- Về án phí: Ông Lê Văn T2 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 116.651.484 (Một trăm mười sáu triệu, sáu trăm năm mươi mốt nghìn, bốn trăm tám mươi bốn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Buộc ông Lê Văn T2 tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 30/10/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay cho đến khi trả hết nợ.
Thời hạn thi hành: Trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.926.730 (Năm mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi sáu nghìn, bảy trăm ba mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001217 ngày 02/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bành Kim Phượng |
Bản án số 866/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 866/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
