|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 866/2024/HS-PT Ngày: 21/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Bùi Anh Thắng; |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Phan Nam; |
| Ông Phạm Văn Lợi. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 889/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu C, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2023/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hữu C, sinh ngày 05/11/1998, tại huyện M, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Tổ dân phố C Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Trần Thị T1; có vợ là Lê Thị D và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2015/HS-ST ngày 10/4/2015, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Hữu C 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản (đã được xóa án tích); Ngày 23/5/2019, Công an thành phố P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 62/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Hữu C về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, với số tiền phạt là 2.500.000₫ (C đã nộp phạt xong ngày 24/5/2019); Ngày 14/2/2020, Công an thành phố P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38/QĐ-XPHC phạt Nguyễn Hữu C về hành vi cầm cố trái phép tài sản thuộc sở hữu người khác, với số tiền phạt là 2.000.000₫ (C đã nộp phạt xong ngày 19/02/2020). Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2023 đến ngày 23/5/2023 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Viết T2 không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu C và Nguyễn Viết T2 quen biết nhau từ trước, T2 biết C có đánh bạc bằng hình thức bán lô đề nên T2 gặp C và thỏa thuận việc T2 mua lô, đề của C. Về giá mua bán lô, đề C, T2 thống nhất: Vào trước 18 giờ 15 phút hàng ngày, nếu T2 có nhu cầu mua lô, đề thì nhắn tin cho C qua điện thoại (T2 sử dụng số thuê bao 0366.254.121, C sử dụng số thuê bao 0966.083.352), C xác nhận việc đồng ý bán lô, đề cho T2 bằng cách nhắn tin lại “Ok”, “Kech”, “U” “2”, “3”, “4”, “5”, “6”,....; giá mua số lô thường là 21.700đ/điểm, 10.000đ/điểm lô xiên 3; căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B quay số, mở thưởng, công bố kết quả vào 18 giờ 30 phút hàng ngày để đối chiếu xác định kết quả thắng thua; nếu các số lô T2 mua mà trùng với hai số cuối (Hàng chục và hàng đơn vị) của tất cả các giải thì T2 thắng và C phải trả thưởng cho T2 là 80.000đ/điểm lô; nếu số đề trùng với hai số cuối (Hàng chục và hàng đơn vị) của giải đặc biệt thì T2 thắng và C phải trả thưởng cho T2 bằng 80 lần số tiền đánh (Tức là 80.000đ/1.000đ tiền đề); nếu đánh số đề 3 càng trùng với ba số cuối (Hàng trăm, hàng chục và hàng đơn vị) của giải đặc biệt thì T2 thắng và C sẽ phải trả thưởng cho T2 bằng 400 lần số tiền đánh (Tức là 400.000đ/1.000₫ tiền đề 3 càng) ...
Kết quả điều tra làm rõ từ ngày 09/4/2023 đến khi bị phát hiện, T2 và C đã đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số lô, số đề cụ thể như sau:
* Lần 1 ngày 09/4/2023: Tuân nhắn 05 tin nhắn mua số lô, đề và được C xác nhận. Tổng các tin nhắn trên T2 mua các số lô, số đề của C, giá tiền thanh toán cụ thể như sau:
- Số lô: 16 là 50 điểm x 21.700đ/1 điểm = 1.085.000đ; số lô: 50, 61, mỗi số 15 điểm, tổng là 30 điểm x 21.700đ/1 điểm = 651.000đ; số lô: 15 là 10 điểm x 21.700đ/1 điểm = 217.000đ; số đề: 00 là 180.000đ; số đề: 05, 88, mỗi số 70.000đ, tổng là 2 x 70.000 = 140.000đ; số đề hệ 00, mỗi số 30.000đ, tức là đánh 4 số đề: 00; 55; 05; 50 mỗi số là 30.000đ x 4 = 120.000đ; số đề hệ 67, mỗi số 15.000đ, tức là đánh 8 số đề: 67; 76; 17; 71; 26; 62; 12; 21, mỗi số là 15.000₫ x 8 = 120.000đ; số đề 3 càng: 200 là 80.000đ; số đề 3 càng: 888 là 50.000đ; số đề hệ: 89; 79 mỗi số 100.000đ, tức là; số đề hệ 89 gồm 08 số: 89, 98, 39, 93, 48, 84, 43, 34, mỗi số là 100.000₫ x 8 = 800.000đ; số đề hệ 79 gồm 08 số: 79, 97, 29, 92, 74, 47, 24, 42, mỗi số là 100.000đ x 8 = 800.000đ; số đề hệ: 78, 75 mỗi số 25.000đ, tức; số đề hệ 78 gồm 08 số: 78, 87, 28, 82, 37, 73, 32, 23, mỗi số là 25.000đ x 8 = 200.000đ; số đề hệ 75 gồm 08 số: 75, 57, 25, 52, 07, 70, 02, 20, mỗi số là 25.000đ x 8 = 200.000đ; các số đề cặp 898, 848, 242, 292 mỗi số là 100.000đ, tức là đánh các số: 89, 98, 84, 48, 24, 42, 29, 92 mỗi số là 100.000₫ x 8 = 800.000đ; các số đề cặp 787, 282, 202, 252, 858, 808 mỗi số là 25.000đ, tức là đánh các số: 78, 87; 28, 82; 20, 02; 25, 52; 85, 58; 80, 08, mỗi số là 25.000₫ x 12 = 300.000đ; các số lô: 11, 27, 35, mỗi số 10 điểm, tổng 30 điểm x 21.700đ/1 điểm = 651.000đ; số lô: 00, 03, 05, 07, 08, 15, 19, 21, 26, 28, 31, 37, 40, 43, 46, 48, 51, 53, 54, 61, 62, 69, 75, 77, 79, 80, 83, 90, 92, 94, 97, 98, mỗi số 5 điểm; tổng 160 x 21.700đ/1 điểm = 3.472.000đ; các số đề: 29, 47, 87, mỗi số là 10.000₫ x 3 = 30.000đ; số lô: 88 là 100 điểm x 21.700đ/1 điểm = 2.170.000đ; các số lô: 99, 07, 70, mỗi số là 20 điểm, tổng 60 điểm x 21.700đ/1 điểm = 1.302.000₫.
Tổng tiền số lô, đề T2 mua của C ngày 09/4/2023 là: 13.368.000₫ (Trong đó tiền đánh lô là: 9.548.000đ, tiền đánh đề là 3.820.000đ).
Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc quay số, mở thưởng, công bố kết quả vào 18 giờ 30 phút ngày 09/4/2023, xác định: Tuân trúng các số lô: 07 = 5 điểm x 80.000đ = 400.000đ; 07 = 20 điểm x 80.000đ = 1.600.000đ; Các số lô 98, 90, 69, 43, 19, 26, 31 mỗi số đều trúng 5 điểm, thành tiền là 7 x 5 x 80.000đ = 2.800.000đ; Số lô 16 (2 nháy) 50 điểm = 100đ thành tiền là 100x 80.000₫ = 8.000.000đ. Tổng tiền trúng lô là: 12.800.000đ; Tuân trúng số đề 26 = 15.000đ x 80 = 1.200.000đ.
Tổng số tiền T2 đã thắng từ việc mua số lô, số đề là 14.000.000đ.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và C ngày 09/4/2023 (Gồm cả tiền T2 đánh lô đề và tiền T2 trúng lô, đề mà C phải trả thưởng) là 27.368.000₫.
* Lần 2 ngày 10/4/2023: Tuân nhắn 07 tin nhắn mua số lô, đề và được C xác nhận. Tổng các tin nhắn trên T2 mua các số lô, số đề của C, giá tiền thanh toán cụ thể như sau:
- Số lô xiên 3 số 42, 10, 16 là 50 điểm x 10.000đ/1 điểm = 500.000đ; số lô: 10, 42, mỗi số 50 điểm, tổng là 100 điểm x 21.700đ/1 điểm = 2.170.000đ; số lô 20, 21, mỗi số 15 điểm, tổng là 30 điểm x 21.700đ/1 điểm = 651.000đ; số đề 98 là 180.000đ; số đề 88, 97, mỗi số là 50.000đ, tổng là 100.000đ; số đề hệ 89 mỗi số 30.000đ, tức là 08 số đề là: 89; 98; 39; 93; 48; 84; 34; 43, mỗi số là 30.000đ, tổng là 240.000đ; số đề hệ: 88, 97 mỗi số 10.000đ, tức là gồm: 04 số đề là: 88; 33; 38; 83 và 08 số đề 97, 79, 29, 92, 47, 74, 24, 42, tổng là 12 số, mỗi số là 10.000đ, thành tiền là 120.000đ; số lô 11, 27, 35, 94 mỗi số là 10 điểm, tổng 40 điểm x 21.700đ/1 điểm = 868.000đ; 31 số lô: 00, 03, 05, 07, 08, 15, 19, 21, 26, 28, 31, 37, 40, 43, 46, 48, 51, 53, 54, 61, 62, 69, 75, 77, 79, 80, 83, 90, 92, 97, 98 mỗi số là 5 điểm, tổng là 31 x 5 x 21.700đ/1 điểm = 3.363.500đ; số đề 58, 85, 59, 95, 80, 82 mỗi số là 5.000đ, tổng là 30.000đ; số đề 87 là 10.000đ; số đề 3 càng: 298 là 70.000đ; số lô: 57, 75, mỗi số 30 điểm, tổng 60 điểm x 21.700đ/1 điểm = 1.302.000đ; giàn 24 số đề: 51, 52, 53, 54, 56, 57, 58, 59, 80, 81, 82, 84, 85, 86, 87, 89, 60, 65, 90, 95, 63, 68, 93, 98 mỗi số là 20.000đ, tổng là 480.000đ; “Còn lại 26 con sân trên” gồm: 50; 55; 61; 62; 66; 64; 67; 69; 70; 71; 72; 73; 74; 75; 76; 77; 78; 79; 83; 88; 91; 92; 94; 96; 97; 99, mỗi số 10.000đ, tổng 260.000đ; số lô cặp 050, 545, 909, 42,10, 16 mỗi số là 10 điểm, tức là đánh lô các số 05, 50; 54, 45; 90, 09; 42, 10, 16, mỗi số là 10 điểm, tổng 90 điểm x 21.700đ/1 điểm = 1.953.000₫.
Tổng tiền số lô, số đề T2 mua của C ngày 10/4/2023 là 12.297.500₫ (Trong đó tiền đánh lô là 10.807.500đ, tiền đánh đề là 1.490.000đ).
Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc quay số, mở thưởng, công bố kết quả vào 18 giờ 30 phút ngày 10/4/2023, xác định: Tuân trúng các số lô: 21= 15 điểm x 80.000đ = 1.200.000đ; các số lô 00, 03, 05, 19, 21, 43, 46, 54, 61, 80, mỗi số đều trúng 5 điểm là: 5 x 10 = 50 điểm x 80.000đ = 4.000.000đ; 05, 54 mỗi số trúng 10 điểm = 2 x 10 = 20 điểm x 80.000đ = 1.600.000đ. Tổng số tiền T2 trúng lô là: 6.800.000đ; Tuân trúng số đề 63 = 20.000₫ x 80 = 1.600.000₫.
Tổng tiền T2 đã thắng từ việc mua số lô, số đề là 8.400.000đ.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và C ngày 10/4/2023 (Gồm cả tiền T2 đánh và tiền T2 trúng số lô, số đề mà C phải trả thưởng) là 20.697.500₫.
* Lần 3 ngày 11/4/2023: Tuân nhắn 03 tin nhắn mua số lô, đề và được C xác nhận. Tổng các tin nhắn trên T2 mua các số lô, số đề của C, giá tiền thanh toán cụ thể như sau:
- Số lô: 11, 27, 94 mỗi số 10 điểm, tổng 30 điểm x 21.700đ/1 điểm = 651.000đ; số lô: 07, 08, 15, 19, 26, 28, 31, 35, 37, 40, 48, 51, 53, 61, 62, 69, 75, 77, 79, 83, 90, 92, 97, 98, 20, 53 mỗi số 5 điểm, tổng 130 điểm x 21.700đ/1 điểm = 2.821.000đ; số đề: 91, 47, 74, 69, 96, 95, mỗi số 10.000đ= 6x 10= 60.000đ; các số đề: 59, 91, 93, 97 mỗi số 5.000đ= 4x 5.000đ= 20.000đ; số lô 24 = 30 điểm x 21.700đ/1 điểm = 651.000đ; số lô 42 là 15 điểm x 21.700đ/1 điểm = 325.500đ; số đề hệ: 15, 17, 19, 66 x 50.000đ, tức đề hệ 15 gồm: 15, 51, 65, 56, 60, 06, 10, 01; đề hệ 17 gồm: 17, 71, 67, 76, 62, 26; 12; 21, mỗi số 50.000đ; đề hệ 19 gồm: 19; 91; 69; 96; 64; 46; 14; 41; đề hệ 66 gồm: 66, 11, 16, 61 mỗi số 50.000đ, thành tiền tổng = 28 số x 50= 1.400.000đ; số đề hệ: 90, 97, 43 x 25.000đ, tức là đề hệ 90 gồm: 90, 09, 95, 59, 40, 04, 45, 54; đề hệ 97 gồm: 97, 79, 92, 29, 47, 74, 42, 24; đề hệ 43: 43, 34, 48, 84, 93, 39, 98, 89. Tổng là 24 x 25.000₫ 600.000₫.
Tổng tiền số lô, số đề T2 mua của C ngày 11/4/2023 là: 6.528.500đ (Trong đó tiền đánh lô là: 4.448.500đ, tiền đánh đề là 2.080.000đ).
Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc quay số, mở thưởng, công bố kết quả vào 18h30' ngày 11/4/2023 xác định: Tuân trúng các số lô: 15, 40, 69, 98 mỗi số 05 điểm = 4 x 5 điểm = 20 điểm, số lô 26 (02 nháy) = 10 điểm, tổng = 30 điểm x 80.000đ = 2.400.000đ và không trúng số đề nào.
Tổng số tiền mà T2 đã thắng từ việc mua số lô là 2.400.000đ.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và C ngày 11/4/2023 (Gồm cả tiền T2 đánh số lô, số đề và tiền T2 trúng lô mà C phải trả thưởng) là 8.928.500₫.
Về số tiền đánh lô, đề, hàng ngày sau khi xác định thắng thua xong, C và T2 chốt lại số tiền thắng hoặc thua phải trả cho nhau vào các ngày cụ thể như sau:
- - Ngày 09/4/2023 tổng số tiền Chiến bán số lô, đề cho T2 là 13.368.000đ, tiền T2 thắng lô và đề của C là 14.000.000đ. Sau khi khấu trừ thì C nợ T2 là 632.000₫.
- - Ngày 10/4/2023 tổng số tiền Chiến bán số lô, đề cho T2 là 12.297.500₫, tiền T2 thắng lô và đề của C là 8.400.000đ. Sau khi khấu trừ, T2 nợ C là 3.897.500₫.
- - Ngày 11/4/2023 tổng số tiền Chiến bán số lô, đề cho T2 là 6.528.500đ, tiền T2 thắng lô và đề của C là 2.400.000đ. Sau khi khấu trừ, T2 nợ của C là 4.128.500₫.
Như vậy, trong 03 ngày 09/4/2023, 10/4/2023 và 11/4/2023 T2 nợ của C là 7.394.000đ (Số tiền này C và T2 chưa kịp thanh toán cho nhau thì bị cơ quan Công an phát hiện).
Đối với các số lô, đề T2 mua của C như đã nêu trên thì C không chuyển cho ai mà C trực tiếp cá cược ăn thua với T2.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu C và Nguyễn Viết T2 đều đã khai rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Ngày 11/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V ra Quyết định số 233, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Hữu C (Ký hiệu mẫu Al) và điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Viết T2 (Ký hiệu A2). Ngày 14/6/2023, Phòng K Công an tỉnh V ra Kết luận giám định số 1664/KL-KTHS, kết luận như sau:
“Trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định. Qua kiểm tra, phân tích dữ liệu thời gian từ ngày 09/4/2023 đến ngày 11/4/2023, kết quả như sau:
- Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, có số IMEI 1: 351444750404381, số IMEI 2: 357213210404388 (Ký hiệu mẫu A1): Có 48 (Bốn mươi tám) cuộc gọi trong lịch sử cuộc gọi, 115 (Một trăm mười lăm) tin nhắn SMS; Chụp được 01 (Một) ảnh màn hình hiển thị nội dung tin nhắn từ ứng dụng Facebook Messenger; Không phát hiện thấy tin nhắn từ ứng dụng Zalo; Thẻ sim kèm theo: Không phát hiện thấy có dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định.
- Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEI 1: 357625085508052, IMEI 2: 357651085508058 (Ký hiệu A2): Có 01 (Một) cuộc gọi trong lịch sử cuộc gọi, 11 (Mười một) tin nhắn SMS; Chụp được 04 (Bốn) ảnh màn hình hiển thị nội dung tin nhắn từ ứng dụng Facebook Messenger; Chụp được 13 (Mười ba) ảnh màn hình hiển thị nội dung tin nhắn từ ứng dụng Zalo; Thẻ sim kèm theo: Không phát hiện thấy có dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định.
Toàn bộ dữ liệu trích xuất được lưu vào 01 (Một) đĩa DVD”.
Qua kiểm tra toàn bộ dữ liệu kết quả giám định được lưu vào 01 đĩa DVD, xác định còn có lưu trữ 30 tin nhắn SMS trong điện thoại Samsung Galaxy M31 của Nguyễn Hữu C có các tin nhắn SMS giữa số điện thoại 0966.083.xxx (của C) và số điện thoại 0366.254.xxx (của T2) có nội dung đánh bạc bằng hình thức số lô, đề vào các ngày 09/4/2023, 10/4/2023 và ngày 11/4/2023 như đã nêu ở phần trên. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung của Nguyễn Viết T2 bị tạm giữ không có thông tin liên quan đến việc đánh bạc.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công ty TNHH MTV X để xác định kết quả các giải trúng thưởng xổ số kiến thiết miền B. Kết quả: Từ ngày 01/4/2023 đến ngày 12/4/2023, Công ty TNHH MTV X1 hoạt động bình thường; thời gian bắt đầu quay mở thưởng hàng ngày bắt đầu hồi 18 giờ 15 phút, kết thúc quay số mở thưởng hàng ngày hồi 18 giờ 30 phút do Hội đồng xổ số kiến thiết miền B thực hiện. Về kết quả mở thưởng từ ngày 01/4/2023 đến ngày 12/4/2023, Công ty đã cung cấp kết quả kèm theo và đóng dấu treo của Công ty TNHH MTV X. Đối chiếu các số trúng thưởng của xổ số kiến thiết miền B những ngày nêu trên phù hợp với lời khai Chiến, T2 về việc sử dụng các kết quả này để đối chiếu xác định thắng, thua.
Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKS-P2 ngày 18 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu C, Nguyễn Viết T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2023/HS-ST ngày 20/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Hữu C 01 năm 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ 14/4/2023 đến ngày 23/5/3023. Phạt Nguyễn Hữu C 10.000.000₫ sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Viết T2, các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/10/2024, bị cáo Nguyễn Hữu C có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo xuất trình thêm một số tài liệu giảm nhẹ mới, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hữu C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật; mức hình phạt là tương xứng. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử, xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện tội phạm do cố ý, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm một số tình tiết giảm nhẹ mới, do đó, có cơ sở để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt giúp bị cáo yên tâm cải tạo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 – 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu C có đơn kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hữu C tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp lời khai của bị cáo Nguyễn Viết T2, phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp, có đủ cơ sở kết luận:
Trong các ngày 09, 10 và 11/4/2023, Nguyễn Viết T2 và Nguyễn Hữu C đã nhiều lần đánh bạc trái phép với nhau bằng hình thức mua bán số lô, số đề, cụ thể:
- - Tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và C ngày 09/4/2023 là 27.368.000đ, bao gồm tiền Tuân đánh số lô, số đề là 13.368.000đ và tiền T2 trúng số lô, số đề mà C phải trả thưởng là 14.000.000đ.
- - Tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và C ngày 10/4/2023 là 20.697.500đ, bao gồm tiền Tuân đánh số lô, số đề là 12.297.500đ và tiền T2 trúng số lô, số đề mà C phải trả thưởng là 8.400.000₫.
- - Tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và C ngày 11/4/2023 là 8.928.500đ, bao gồm tiền Tuân đánh số lô, số đề là 6.528.500đ và tiền T2 trúng số lô mà C phải trả thưởng là 2.400.000đ.
Số tiền đánh lô, đề, hàng ngày sau khi xác định thắng thua xong, C và T2 chốt lại số tiền thắng hoặc thua phải trả cho nhau. Trong 03 ngày 09/4/2023, 10/4/2023 và 11/4/2023, T2 còn nợ của C số tiền là 7.393.500đ, C và T2 chưa kịp thanh toán cho nhau thì bị cơ quan Công an phát hiện.
Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử bị cáo Nguyễn Hữu C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4]. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hữu C, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Nguyễn Hữu C đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo cũng đã tự nguyện nộp lại số tiền 10.200.000đ bị truy thu; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng; Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hữu C là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử và kết án về tội Cướp tài sản và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương và quản lý của Nhà nước về kết quả mở thưởng xổ số, chứng tỏ bị cáo không có khả năng tự cải tạo, cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm, do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo. Mặc dù vậy, tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm một số tài liệu giảm nhẹ mới thể hiện đã nộp lại số tiền 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo cũng đã nộp lại số tiền 14.600.000 đồng sử dụng để đánh bạc bị truy thu; như vậy, bị cáo đã thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ dân sự của bị cáo trong vụ án; ngoài ra, bị cáo còn xuất trình giấy khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc vì có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống tội phạm; đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc, xem xét tới các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và các tài liệu mới bị cáo giao nộp tại phiên tòa phúc thẩm cùng thái độ chấp hành bản án, tỏ ra thực sự ăn năn hối cải của bị cáo thì có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, có cơ hội sớm trở về hòa nhập cùng cộng đồng, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị giảm nhẹ một phần cho bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[5]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Hữu C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu C; Sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2023/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với bị cáo, cụ thể:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ 14/4/2023 đến ngày 23/5/3023. Phạt Nguyễn Hữu C 10.000.000₫ sung quỹ Nhà nước.
- Ghi nhận bị cáo Nguyễn Hữu C đã nộp lại số tiền 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung; 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0003969 ngày 21/10/2024 và số tiền 14.600.000 đồng truy thu để sung quỹ Nhà nước theo Biên lai số 0003967 ngày 16/10/2024 cùng của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Xác nhận bị cáo Nguyễn Hữu C đã thi hành xong tiền phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm và tiền truy thu sung quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Anh Thắng |
Bản án số 866/2024/HS-PT ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 866/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo.
