TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 866/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16-7-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Thái Văn Sơn;
- Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Kim An – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thuộc trường hợp không tham gia phiên toà.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 389/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 324/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị P, sinh năm 1977 (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1973 (Vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Số G đường P, tổ B, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số G đường P, tổ B, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện ngày 20/3/2024, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị P trình bày: Bà Đặng Thị P và ông Nguyễn Hồng S tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 66, quyển số 01 vào ngày 14/6/2000. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó ông bà phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông S thường xuyên đi nhậu về kiếm chuyện dẫn đến vợ chồng phát sinh tranh cãi, xích mích. Hai bên đã nhiều lần tự hòa giải nhưng do tính tình khác biệt dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hàn gắn được tình cảm. Do đó, bà P đã nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó bà đã rút đơn để tạo điều kiện cũng như cơ hội cho ông S sữa chữa, tuy nhiên ông S vẫn không thay đổi. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P làm đơn xin ly hôn và yêu cầu Tòa án cho bà P được ly hôn với ông Nguyễn Hồng S.
Về con chung: Bà P khai nhận hai bên có 03 con chung tên Nguyễn Trường V, sinh ngày 27/7/2000 (đã trưởng thành); Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 28/9/2002 (đã trưởng thành); Nguyễn Thị Hồng P1, sinh ngày 11/11/2007. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung Nguyễn Thị Hồng P1 và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Hồng S: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa, ông S trực tiếp nhận nhưng vẫn vắng mặt không có lý do cũng không nộp bản khai trình bày ý kiến của mình.
Tại phiên toà:
- * Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc được ly hôn với ông Nguyễn Hồng S;
- - Về con chung: Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung Nguyễn Thị Hồng P1, sinh ngày 11/11/2007, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung;
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết
- * Bị đơn ông Nguyễn Hồng S vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp: Bà Đặng Thị P khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồng S nên căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn hiện đang cư trú tại số G đường P, tổ B, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Hồng S đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa; mặc dù ông S nhận trực tiếp nhưng vẫn không cung cấp bản khai trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về sự tham gia của Viện kiểm sát: Tòa án không tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ nên vụ án này không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu của các đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị P và ông Nguyễn Hồng S chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 66, quyển số 01 vào ngày 14/6/2000 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Đặng Thị P và ông Nguyễn Hồng S là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Đặng Thị P: Hội đồng xét xử nhận thấy tại đơn xin ly hôn, các bản khai, biên bản ghi nhận ý kiến tại Tòa án, bà Đặng Thị P cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do ông S thường xuyên đi nhậu dẫn đến vợ chồng phát sinh tranh cãi, xích mích. Hai bên đã nhiều lần tự hòa giải nhưng do tính tình khác biệt dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hàn gắn được tình cảm. Bà P đã nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó bà đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ và đã được Tòa án ban hành Quyết định đình chỉ số 92/2024/QÐST-DS ngày 24/01/2024; tuy nhiên, nay bà P lại tiếp tục nộp đơn xin ly hôn cho thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Bị đơn ông Nguyễn Hồng S đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo mở phiên họp, kiểm ra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã mở phiên hoà giải đoàn tụ để các bên hàn gắn tình cảm; đã tống đạt Quyết định, giấy triệu tập tham gia phiên toà, ông S trực tiếp nhận. Tuy nhiên, ông S trong suốt quá trình giải quyết vụ án vẫn vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ ông S không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm, không tạo điều kiện để Tòa án hoà giải hàn gắn tình cảm hai bên theo luật định. Xét thấy, hai bên không còn quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hoà giải, không có khả năng đoàn tụ, hàn gắn tình cảm nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc bà Đặng Thị P yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồng S là hoàn toàn có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Trường V, sinh ngày 27/7/2000 (đã trưởng thành); Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 28/9/2002 (đã trưởng thành); Nguyễn Thị Hồng P1, sinh ngày 11/11/2007. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung Nguyễn Thị Hồng P1, ông S không có ý kiến nên việc giao con cho bà P nuôi dưỡng là hoàn toàn có cơ sở. Bà P không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà P không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí: Bà Đặng Thị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị P và ông Nguyễn Hồng S chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 66, quyển số 01 vào ngày 14/6/2000 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Đặng Thị P và ông Nguyễn Hồng S là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị P được ly hôn với ông Nguyễn Hồng S.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Hồng P1, sinh ngày 11/11/2007 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đặng Thị P không yêu cầu ông Nguyễn Hồng S cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Ông Nguyễn Hồng S được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con khi có lý do chính đáng một hoặc cả hai bên được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đặng Thị P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí: Bà Đặng Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0019715 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đặng Thị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoà |
Bản án số 866/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Số bản án: 866/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
