TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 865/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2024
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1026/2023/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thu H, sinh năm 1989;
Địa chỉ: 2 ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Kim H1, sinh năm 1980;
Địa chỉ: 2 ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Bùi Thị Thu H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Kim H1 tự nguyện kết hôn năm 2020, Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2020 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 20/4/2020. Sau thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, ông H1 đưa ra điều kiện cơm ai nấy ăn, việc ai nấy làm, bà H đã cố gắng chịu đựng được 6 tháng cho đến thời điểm nộp đơn tháng 10/2023. Nhận thấy không được chồng yêu thương, tôn trọng, không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân, bà yêu cầu ly hôn với ông H1.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 18/6/2020, khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nhưng ông H1 không đến Tòa án để tự khai, tham gia phiên họp, bà H có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Tại phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Kim H1 vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa. Các đương sự đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: bà Bùi Thị Thu H yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Kim H1; ông H1 cư trú tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: ông Nguyễn Kim H1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, kèm các Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Bà Bùi Thị Thu H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn: Trong vụ án này, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 06/2020 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 20/4/2020 thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông H1 và bà H là hợp pháp. Nay bà H yêu cầu được ly hôn vì quá trình chung sống không hạnh phúc, không được yêu thương, tôn trọng.
Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình, có nghĩa vụ sống chung với nhau, tuy nhiên giữa bà H và ông H1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện nay cả hai hoàn toàn không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, bên cạnh đó từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử ông H1 không đến Tòa án để tự khai, hòa giải, xét xử và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với việc bà H xin ly hôn, chứng tỏ ông H1 không quan tâm đến hạnh phúc gia đình và cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận lời trình bày và yêu cầu của bà H là được ly hôn với ông H1.
[2.2] Về con chung: Theo lời trình bày của bà H thì quá trình chung sống bà và ông H1 có 01 con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 18/6/2020. Xét trẻ N là bé gái và trong suốt quá trình Tòa án triệu tập, mời ông H1 làm việc ông H1 đều không có mặt và cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử thấy việc giao trẻ N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Nguyễn Kim H1 do bà H không yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Nội dung phát biểu ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
[4] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Bùi Thị Thu H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thu H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Kim H1.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 18/6/2020. Giao trẻ N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông H1 do bà H không yêu cầu.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 84 luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có nên không xem xét.
2. Về án phí: Bà Bùi Thị Thu H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí do bà H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017204 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Oanh |
Bản án số 865/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 865/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
