TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 864/2023/HSPT Ngày 16 tháng 11 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Xuân Điền |
| Các thẩm phán: | Ông Vũ Minh Tuấn |
| Ông Nguyễn Tiến Dũng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Lê Giang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bình, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 942/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Đỗ Thị Ngọc H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 306/2023/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Thị Ngọc H sinh ngày 23/02/1974 tại Hà Nội; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số B, Tổ 11 (nay là Số I, đường L), phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; nơi ở: Số B, Ngõ A, đường Q, tổ dân phố A, phường Đ, quận N, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: nguyên là nhân viên Ngân hàng K; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Trần C và bà Nguyễn Thị H1; có chồng là Nguyễn Lê T và 02 con (sinh năm 1994 và 2004); tiền án, tiền sự: không; biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thị Ngọc H: Ông Lê Quốc G và ông Đỗ Trọng L, đều là Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (ông G vắng mặt, ông L có mặt).
Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Nguyễn Lê T, 04 bị hại và 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị (Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thị Ngọc H là nhân viên của Ngân hàng K, chi nhánh H4. H nhận thấy có nhiều khách hàng cần vay tiền mặt để làm thủ tục đáo hạn cho các khoản vay đến hạn mà chưa có khả năng thanh toán nên H cần vay tiền để hỗ trợ cho khách hàng làm thủ tục đáo hạn ngân hàng. Từ năm 2014 đến tháng 3/2017, qua mối quan hệ quen biết, H đã hỏi vay tiền của chị Nguyễn Thị Lan H2, anh Vũ Quang H3, chị Nguyễn Hà L1 và chị Trịnh Thị T1 để làm thủ tục đáo hạn ngân hàng cho khách, hẹn từ 03 đến 05 ngày sẽ hoàn trả. Sau khi hỏi vay được tiền, H bảo chồng là Nguyễn Lê T đến nhà các bị hại lấy tiền mặt hoặc nhận tiền qua tài khoản ngân hàng của T để T rút tiền mặt.
Tính từ ngày 06/02/2017 đến ngày 09/3/2017, sau khi vợ chồng Đỗ Thị Ngọc H và Nguyễn Lê T đã vay của các bị hại tổng số tiền 8.925.000.000 đồng thì tối ngày 10/3/2017 T và H bỏ trốn, vứt bỏ sim điện thoại để các bị hại không thể liên lạc được nhằm chiếm đoạt số tiền vay của các bị hại. Cụ thể như sau:
(1) Hành vi chiếm đoạt số tiền 2.500.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Lan H2:
Thông qua mối quan hệ xã hội, vợ chồng Đỗ Thị Ngọc H, Nguyễn Lê T quen biết chị Nguyễn Thị Lan H2. H hỏi vay tiền của chị H2 để làm thủ tục đáo nợ cho khách vay tiền tại Ngân hàng K, lãi suất theo lãi vay ngân hàng. Chị H2 nhiều lần cho vợ chồng T, H vay tiền và T, H đã thanh toán đầy đủ, đúng hẹn. Đầu tháng 4/2014, T bảo H vay tiền để T để góp vốn đầu tư kinh doanh cho thuê xe ô tô tự lái. Ngày 22/4/2014, H gọi điện cho chị H2 hỏi vay số tiền 700.000.000 đồng để làm thủ tục đáo nợ ngân hàng cho khách; chị H2 đồng ý thì H bảo T đến nhà chị H2 nhận tiền, T đã đến nhà chị H2 (tại Số I Ngõ C G, B, Hà Nội) nhận số tiền 700.000.000 đồng và viết giấy vay tiền ghi ngày 22/4/2014 có chữ ký của T với nội dung: “Tôi có vay của chị H2 số tiền là 700.000.000đ. Hẹn sau 5 ngày sẽ hoàn trả”. Tuy nhiên đến hẹn trả nợ, vợ chồng H, T chưa trả khoản nợ này cho chị H2. Đến tháng 9/2014, T tiếp tục bảo H hỏi vay thêm tiền để T đầu tư làm ăn. Ngày 23/9/2014, H liên hệ với chị H2 hỏi vay 1.800.000.000 đồng; chị H2 yêu cầu H trả số nợ cũ 700.000.000 đồng, H hứa với chị H2 sau 03 đến 05 ngày sẽ thu xếp trả đủ cả nợ cũ, khoản vay mới và trả lãi suất tương đương với lãi suất vay ngân hàng nên chị H2 đồng ý cho H vay. H bảo T đến nhà chị H2 nhận tiền, sau đó T đến nhà chị H2 nhận số tiền 1.800.000.000 đồng và viết giấy vay tiền ghi ngày 23/9/2014 có chữ ký của T với nội dung: “Tôi có vay của chị H2 số tiền là 1.800.000.000đ. Hẹn ngày 24 trả lại”. Tổng số tiền vợ chồng H, T còn nợ chị H2 là 2.500.000.000 đồng. Đến hạn trả nợ, không thấy H, T trả tiền nên chị H2 nhiều lần gọi điện liên lạc với H đòi tiền nhưng H nhiều lần hứa hẹn mà vẫn không trả. Đến tối ngày 10/3/2017, do còn nợ tiền của nhiều người và không có khả năng thanh toán nên vợ chồng Hà T2 bỏ trốn.
Sau khi nghe thông tin vợ chồng H, T2 bỏ trốn, chị H2 đã liên lạc với H nhưng H tắt điện thoại nên không liên lạc được; chị H2 đến nhà bố mẹ T2 tìm thì được biết vợ chồng H, T2 gửi con cho bố mẹ đẻ T2 và bỏ trốn. Chị H2 đã làm đơn tố giác hành vi chiếm đoạt tài sản của H, T2 đến Cơ quan điều tra; đồng thời giao nộp các tài liệu gồm: 01 giấy vay tiền ghi ngày 22/4/2014 có chữ ký Nguyễn Lê T và 01 giấy vay tiền ghi ngày 23/9/2014 có chữ ký của Nguyễn Lê T với nội dung đã nêu ở trên.
Tại bản kết luận giám định số 4760 ngày 16/8/2017, Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn T trên các tài liệu cần giám định (02 giấy vay tiền do chị Nguyễn Thị Lan H2 giao nộp - ký hiệu Al, A2) với chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Lê T trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) là chữ do cùng một người viết và ký ra.
Ngoài khoản tiền 2.500.000.000 đồng cho vợ chồng H, T vay nêu trên, chị H2 còn khai đầu năm 2017 có cho H, T vay số tiền 500.000.000 đồng đến nay chưa trả. Tuy nhiên vợ chồng H, T không thừa nhận khoản vay này và chị H2 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ liên quan nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
(2) Hành vi chiếm đoạt số tiền 5.250.000.000 đồng của anh Vũ Quang H3:
Vợ chồng Đỗ Thị Ngọc H, Nguyễn Lê T với anh Vũ Quang H3 là hàng xóm có mối quan hệ thân thiết với nhau. Năm 2016, H hỏi vay tiền của anh H3 để làm thủ tục đáo hạn cho khách vay tiền tại Ngân hàng K và trả lãi khoảng 1.000đ/1 triệu/ngày. Do tin tưởng H làm ở ngân hàng nên anh H3 đồng ý cho H vay tiền, việc vay mượn tiền thể hiện qua nội dung tin nhắn giữa anh H3 và H. Năm 2016, H thanh toán đầy đủ và đúng hạn các khoản vay tiền của anh H3. Năm 2017, H nhiều lần vay tiền của anh H3 để làm thủ tục đáo nợ ngân hàng cho khách, thời hạn vay từ 03 đến 05 ngày; sau khi hỏi vay được tiền, H bảo T đến nhà anh H3 lấy tiền về cho H. Từ đầu năm 2017 đến ngày 09/3/2017, H và T đã vay của anh H3 tổng số tiền 5.200.000.000 đồng, cụ thể qua các tin nhắn điện thoại giữa H và anh H3 như sau:
- Ngày 25/01/2017, anh H3 nhắn tin cho H với nội dung: “Tính đến ngày 24/01/2017, gốc còn: 2 tỷ 400 triệu đồng, tiền lãi còn thừa 5.510k” tức là tiền gốc H còn nợ anh H3 là 2.400.000.000 đồng, còn tiền lãi H đang trả thừa cho anh H3 số tiền 5.510.000 đồng; H nhắn tin xác nhận “ok” với anh H3.
- Ngày 02/02/2017, H nhắn tin cho anh H3: "À lúc nãy thấy có 40 nghìn đô đấy, hỏi chị tỷ giá nhé", đối với tin nhắn này H trả cho anh H3 số tiền 40.000USD tương đương 900.000.000 đồng; tính đến ngày 02/02/2017, H còn nợ anh H3 số tiền 1.500.000.000 đồng.
- Ngày 06/02/2017, H gọi điện vay anh H3 1.000.000.000 đồng; ngày 07/02/2017, anh H3 nhắn tin cho H: “tỷ giá 229000. 11h có luôn chị ơi; Tổng là 2.335.800k làm tròn 2,236tr; 2,336tr. Sory”. Đây là tin nhắn của anh H3 nhắn cho H, do ngày 07/02/2017 H gọi điện hỏi vay anh H3 102.000USD, vì vậy anh H3 đã
hỏi tỷ giá tiền USD tại thời điểm đó, quy đổi ra tiền mặt là 2.336.000.000 đồng. Số tiền này H đã nhận đủ thể hiện tại tin nhắn “Chị nhận đủ 102 nghìn đô rồi nhé” vào hồi 11h15' ngày 07/02/2017. Tính đến thời điểm này, H còn nợ anh H3 4.836.000.000 đồng.
- Ngày 13/02/2017, H nhắn tin cho anh H3: “hỏi chị tỷ giá 80 nghìn đô”, số tiền này là H trả cho anh H3 để trả cho khoản vay 102.000USD trước đó. Tại thời điểm này anh H3 xác nhận với H tỷ giá USD là 22.760đ/1USD, tương đương H trả cho anh H3 số tiền 1.736.000.000 đồng. Tính đến ngày 13/02/2017, H còn nợ anh H3 3.100.000.000 đồng.
- Ngày 21/02/2017, H hỏi vay anh H3 1.900.000.000 đồng, anh H3 đã giao tiền cho T, H đã nhận đủ thể hiện tại tin nhắn: “Chị nhận đủ 1,9 tỷ rồi, thừa ra 500k nhé".
- Ngày 01/3/2017, H nhắn tin cho anh H3: “Vẫn có 45 nghìn đô thôi. Hay cứ qua lấy tạm cho chị rồi mai tính tiếp”, Hà định trả trước cho anh H3 45.000 USD nhưng anh H3 không đồng ý và yêu cầu H phải trả đủ 1.900.000.000 đồng. Vì vậy, ngày 06/3/2017 H đã trả cho anh H3 số tiền 1.900.000.000 đồng nên đến ngày 06/3/2017 H vẫn còn nợ anh H3 3.100.000.000 đồng.
- Ngày 09/3/2017, H nhắn tin cho anh H3: “Ok, chị nhận đủ 2,1 tỷ rồi nhé” là số tiền H tiếp tục hỏi vay anh H3.
Toàn bộ số tiền H vay của anh H3 thì T là người đến nhận tiền và mang đến Ngân hàng K chi nhánh tại Hà Nội đưa cho H. Tính đến ngày 09/3/2017, tổng số tiền H, T vay của anh H3 là 5.200.000.000 đồng. Do T, H không có khả năng trả nợ tiền của anh H3 và một số người khác nên tối ngày 10/3/2017 vợ chồng H, T bỏ trốn, vứt bỏ sim điện thoại để anh H3 không liên lạc được nhằm chiếm đoạt tiền của anh H3. Khoảng tháng 7/2017, T, H đọc báo biết tin nhà anh H3 bị cháy nên T có liên lạc gọi điện thoại cho bà Nguyễn Thị H1 (mẹ đẻ H), nhờ bà H1 lo cho ít tiền trả cho anh H3. Bà H1 đã nhờ một người lái xe ôm (không xác định được nhân thân) mang trả cho anh H3 số tiền 150.000.000 đồng. Sau đó, H, T không liên lạc với anh H3, không trả anh H3 nốt số tiền còn lại.
(3) Hành vi chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng của chị Nguyễn Hà L1:
Chị Nguyễn Hà L1 và vợ chồng Đỗ Thị Ngọc H, Nguyễn Lê T là hàng xóm của nhau. Vợ chồng H, T giới thiệu với chị L1 về việc H là nhân viên của Ngân hàng K chi nhánh tại Hà Nội có nhiều khách hàng cần vay tiền để làm thủ tục đáo hạn cho các khoản vay đến hạn mà chưa có khả năng thanh toán nên H cần vay tiền để hỗ trợ cho khách hàng làm thủ tục đáo hạn. H hỏi chị L1 có tiền nhàn rỗi thì cho vợ chồng H vay, tiền lãi tính theo lãi suất ngân hàng. Đầu tháng 02/2017, H gọi điện thoại hỏi vay chị L1 số tiền 600.000.000 đồng để làm thủ tục đáo hạn cho khách hàng vay ngân hàng, hẹn ngày 13/3/2017 sẽ hoàn trả. H nhờ chị L1 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V số 0011004142274 của T để T rút tiền mặt cho H. Chị L1 đã sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0491000035985 mang tên Nguyễn Hà L1 chuyển khoản 03 lần với tổng số tiền 600.000.000 đồng vào tài khoản ngân
hàng trên của T, cụ thể:
- Ngày 06/02/2017, chị L1 chuyển 250.000.000 đồng đến tài khoản của T, nội dung ghi: E L ck tien gui chi Ha;
- Ngày 03/3/2017, chị L1 chuyển 100.000.000 đồng đến tài khoản của T, nội dung ghi: E linh ck chi Ha;
- Ngày 09/3/2017, chị L1 chuyển 250.000.000 đồng đến tài khoản của T, nội dung ghi: E linh ck chi Ha.
Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của chị Nguyễn Hà L1 và tài khoản ngân hàng của Nguyễn Lê T đều thể hiện các lần chị L1 chuyển khoản cho T như đã nêu trên.
Tại Cơ quan điều tra, H và T khai nhận vay chị L1 số tiền 600.000.000 đồng như đã nêu trên; T còn khai sau khi tài khoản của T nhận được tiền chuyển khoản của chị L1, T rút toàn bộ tiền mặt và sử dụng trả nợ hết. Do không có khả năng trả lại tiền cho chị L1 nên tối ngày 10/3/2017 H và T bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng vay của chị L1.
Chị Nguyễn Hà L1 khai: Ngoài số tiền 600.000.000 đồng trên, chị L1 còn nhiều lần cho H, T vay tiền mặt với tổng số tiền 800.000.000 đồng, không có giấy tờ biên nhận, không có ai chứng kiến. Tổng số tiền chị L1 cho vợ chồng H, T vay là 1.400.000.000 đồng; đến hẹn, vợ chồng Hà T2 không trả tiền cho chị mà bỏ trốn nên chị L1 yêu cầu vợ chồng H, T2 phải trả cho chị số tiền đã vay là 1.400.000.000 đồng. Tuy nhiên, do chị L1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc cho H, T2 vay số tiền 800.000.000 đồng; H, T2 không thừa nhận khoản vay này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
(4) Hành vi chiếm đoạt số tiền 23.000 EUR và 60.000.000 đồng (tổng cộng tương đương 625.000.000 đồng) của chị Trịnh Thị T1:
Thông qua chị Nguyễn Hà L1, vợ chồng Đỗ Thị Ngọc H, Nguyễn Lê T quen biết chị Trịnh Thị T1. Chị T1 nhiều lần cho H vay tiền để làm đáo hạn cho khách hàng đang vay vốn tại Ngân hàng K. Đối với các khoản vay, H đều thanh toán cho chị T1 tiền gốc và lãi đúng hẹn, việc vay mượn tiền không có giấy tờ biên nhận. Tối ngày 08/3/2017, chị T1 nhận được điện thoại từ số thuê bao 0983.889.398 của Đỗ Thị Ngọc H hỏi vay tiền để làm đáo hạn ngân hàng cho khách và hẹn trong vòng 03 ngày sẽ trả lại tiền cho chị T1; chị T1 đồng ý cho H vay tiền nên H bảo T đến nhà chị T1 lấy tiền. Ngày 09/3/2017, T đến nhà chị T1 tại P tòa nhà T, phường D, Cầu G, Hà Nội lấy tiền H vay. Chị T1 đưa cho T số tiền 60.000.000 đồng và 23.000 EURO. Chị T1 viết giấy vay tiền ghi nội dung: Ngày 9/3/2017, cho anh T vay 23.000 EURO và 60 triệu tiền Việt hẹn thứ hai trả (23.000EURO = 625.000.000đ), Nguyễn Lê T ký, viết tên vào mục người vay và giao lại cho chị T1 giữ, việc vay tiền không ghi thỏa thuận về lãi suất. Đến ngày 13/3/2017, không thấy vợ chồng H, T đến trả tiền như đã hứa hẹn, gọi điện cho H, T thấy không liên lạc được, chị T1 đến nhà tìm thì phát hiện H, T đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Chị T1 đã làm đơn tố giác hành vi chiếm đoạt tài sản của H, T đến Cơ quan điều tra, đồng
thời giao nộp tài liệu là 01 giấy vay tiền như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định số 3815 ngày 28/6/2017, Phòng K1 Công an T kết luận: Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Lê T (dưới chữ ký) mục “bên vay” trên tài liệu cần giám định (01 giấy vay tiền do chị Nguyễn Hà L1 giao nộp - ký hiệu A) với chữ viết, chữ ký dòng họ tên Nguyễn Lê T trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) là chữ do cùng một người viết và ký ra.
Tại Cơ quan điều tra: H và T khai nhận có vay chị T1 23.000 EUR và 60.000.000 đồng (tổng cộng tương đương 625.000.000 đồng), do không có khả năng trả nợ nên vợ chồng H, T bỏ trốn, chiếm đoạt số tiền trên của chị T1. Chị T1 khai còn cho H vay 475.000.000 đồng nhưng H và T không thừa khoản vay này; chị T1 không có giấy tờ biên nhận, không có tài liệu chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Như vậy, tổng số tiền Đỗ Thị Ngọc H và Nguyễn Lê T đã vay của chị Nguyễn Thị Lan H2, anh Vũ Quang H3, chị Nguyễn Hà L1 và chị Trịnh Thị T1 là 8.925.000.000 đồng. Sau đó, do không có tiền trả nợ cho các bị hại nên vợ chồng H, T đã cùng nhau bỏ trốn đi nhiều nơi (sang Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, về Lào Cai sau đó về huyện T, Hà Nội thuê nhà ở), vứt bỏ sim điện thoại để các bị hại không tìm được nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của các bị hại.
Xác minh tại Ngân hàng K chi nhánh H4: Đỗ Thị Ngọc H làm tại bộ phận Quỹ của Ngân hàng từ năm 2006. Từ ngày 13/3/2017 H không đến cơ quan làm việc, nghỉ việc không có lý do. Ngày 30/3/2017, Ngân hàng đã ra Quyết định buộc thôi việc đối với Đỗ Thị Ngọc H.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 306/2023/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố Đỗ Thị Ngọc H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Đỗ Thị Ngọc H 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Lê T; trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ chịu lãi suất trong trường hợp các bị cáo chậm thi hành khoản tiền bồi thường còn lại; xử lý vật chứng; nghĩa vụ chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; phổ biến về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm và thủ tục thi hành bản án về phần dân sự theo quy định.
3. Kháng cáo: Ngày 01/8/2023, bị cáo Đỗ Thị Ngọc H có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
4.1. Bị cáo Đỗ Thị Ngọc H giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
4.2. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả từ hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng của bị cáo Đỗ Thị Ngọc H cùng đồng phạm Nguyễn Lê T, trong đó đã xác định Đỗ Thị Ngọc H có vai trò cao hơn Nguyễn Lê T; đã áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân bị cáo. Từ đó, đã quyết định xử phạt bị cáo 16 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng các lý do bị cáo và người bào chữa cho bị cáo trình bày tại phiên tòa một phần đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, một phần không có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Ngọc H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
4.3. Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến:
Bị cáo kháng cáo cho rằng hình phạt là quá nặng, chưa đánh giá chính xác vị trí, vai trò của bị cáo trong vụ án. Mấu chốt dẫn đến sự việc phạm tội là do chồng bị cáo làm thất thoát số tiền vay của các bị hại mà bị cáo không biết, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo là người chủ động vay tiền rồi chiếm đoạt là không đúng. Việc bị cáo H làm việc tại ngân hàng nên có vay tiền để đáo hạn cho khách hàng là nhu cầu dân sự của các bên và thực tế H đã vay như vậy rất nhiều lần, trả cho các bị hại đầy đủ nên các bị hại tiếp tục cho H vay thường xuyên. Đến tháng 3/2017, H không kiểm soát được dòng tiền là do trước đó tin tưởng chồng đã trả tiền cho các bị hại nhưng chồng bị cáo (bị cáo T) đã làm thất thoát khi T kinh doanh ô tô tự lái.
Bị cáo H không biết việc T vay của chị H2 02 tỷ đồng, sau đó chị H2 tiếp tục cho H vay mà không nhắc đến khoản nợ trước đó nên bị cáo H cho rằng đã trả nợ 02 tỷ của chị H2. Đối với khoản vay của chị T1, chị L1 thì T sử dụng không đưa cho H, đến khi T đi công tác về thì H mới phát hiện ra. Tương tự, T lấy tiền từ chỗ anh H3 và nhiều lần trả tiền cho anh H3. Từ ngày 03 đến ngày 09/3/2017 H đưa tiền cho T để trả cho anh H3, đến tối trở về thì T nói đã sử dụng hết và mất khả năng thanh toán cho bị cáo H biết. Như vậy, nếu T không chiếm đoạt số tiền vay thì sự việc này không xảy ra; việc H có hành vi bỏ trốn là do hoảng loạn, không hiểu biết pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo H là đầu vụ là không đúng.
Quá trình tố tụng, bị cáo H đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại, mặc dù khoản tiền bồi thường ít nhưng tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự không quy định bao nhiêu tiền thì mới được áp dụng nên Luật sư cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết này cho bị cáo là không đúng quy định của pháp luật; bên cạnh đó, trong vụ án này cả hai vợ chồng cùng bị xét xử và chịu mức hình phạt đều quá cao. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc để giảm nhẹ mức hình phạt hơn nữa cho bị cáo Đỗ Thị Ngọc H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị Ngọc H thừa nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung đã khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, được tổng hợp tại bản án sơ thẩm. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Lê T; phù hợp với lời khai của các bị hại; phù hợp với kết luận giám định chữ ký của bị cáo T trên các giấy tờ vay nợ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập đúng thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Trong quá trình làm việc tại Ngân hàng K, Đỗ Thị Ngọc H biết nhiều khách hàng đã vay tiền ở ngân hàng cần vay tiền mặt để làm thủ tục đáo hạn cho các khoản vay đến hạn mà chưa có khả năng thanh toán. Lợi dụng mối quan hệ quen biết, trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến tháng 3/2017, H đã lấy lý do cần tiền để làm thủ tục đáo hạn tại ngân hàng cho khách để hỏi vay tiền và được chị Nguyễn Thị Lan H2, anh Vũ Quang H3, chị Nguyễn Hà L1, chị Trịnh Thị T1 tin tưởng cho H vay tổng số tiền là 8.925.000.000 đồng (trong đó: chị H2 cho vay 2.500.000.000 đồng; anh H3 cho vay 5.200.000.000 đồng; chị L1 cho vay 600.000.000 đồng; chị T1 cho vay 625.000.000 đồng) với thời hạn từ 03 đến 05 ngày, lãi suất theo lãi suất ngân hàng. Khi hỏi vay tiền, H nói với các anh chị trên chuyển tiền vào tài khoản của chồng là Nguyễn Lê T để T rút tiền mặt chuyển cho H hoặc T sẽ đến gặp trực tiếp từng người lấy tiền. Sau khi vay được tiền, H và T đã sử dụng chi tiêu vào việc làm ăn, sinh hoạt trong gia đình và trả nợ. Đến ngày 10/3/2017, do không có khả năng trả các khoản nợ trên nên H, T đã tắt máy điện thoại, vứt sim và cùng nhau bỏ trốn để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho các anh chị đã cho H vay tiền kể trên.
Với hành vi và hậu quả do Đỗ Thị Ngọc H gây ra nêu trên, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã tuyên bị cáo Đỗ Thị Ngọc H phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp “chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả từ hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng của bị cáo Đỗ Thị Ngọc H cùng đồng phạm Nguyễn Lê T là chồng bị cáo gây ra; trong đó, đã xác định Đỗ Thị Ngọc H là người khởi xướng và trực tiếp đặt vấn đề vay, sử dụng, trả tiền vay cho các bị hại nên có vai trò cao hơn Nguyễn Lê T là người giúp sức đi lấy tiền vay về cho H. Đồng thời, đã xác định bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải, vợ chồng bị cáo đã trả được 150.000.000 đồng cho anh H3 và trong quá trình điều tra vụ án H đã nộp 100.000.000 đồng để khắc phục hậu quả chung; bị cáo có mẹ chồng (mẹ đẻ bị cáo T) được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Từ đó, đã cân nhắc và quyết định xử phạt bị cáo H 16 năm tù là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét những lý do xin giảm nhẹ mức hình phạt mà bị cáo và người bào chữa cho bị cáo trình bày tại phiên tòa thì thấy:
Trong hồ sơ vụ án có các tài liệu, chứng cứ thể hiện: sau khi đã bỏ trốn, qua mạng thông tin truyền thông H được biết anh H3 bị cháy nhà nên H có nhờ bà H1 (là mẹ H) trả giúp cho anh H3 150.000.000 đồng và trong quá trình điều tra vụ án H đã nộp 100.000.000 đồng để khắc phục hậu quả chung. Như vậy, có căn cứ xác định bị cáo đã tự mình và có sự tác động với gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho các bị hại. Tuy nhiên, do mức độ bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của bị cáo nêu trên là quá nhỏ so với số tiền bị cáo đã chiếm đoạt và tình tiết này cũng đã được Tòa án cấp sơ thẩm cân nhắc khi quyết định hình phạt; ngoài ra, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó, để bảo đảm tính cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước trừng trị người phạm tội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Thị Ngọc H.
[4] Đối với kháng cáo của bị cáo và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về việc áp dụng cho bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, xét thấy: theo nội dung phân tích tại mục [3] ở trên thì có căn cứ xác định bị cáo đã tự mình và có sự tác động với gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho các bị hại nên cần ghi nhận tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo. Tuy vậy, việc áp dụng tình tiết này là không đủ cơ sở để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo và cũng không phải là căn cứ để sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử bổ sung vào phần quyết định của bản án sơ thẩm cho đầy đủ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Ngọc H; giữ nguyên Bản án
hình sự sơ thẩm số 306/2023/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thị Ngọc H.
Áp dụng khoản 4 Điều 175; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Ngọc H 16 (mười sáu) năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Thị Ngọc H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Các quyết định của Bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Lê T; trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ chịu lãi suất trong trường hợp các bị cáo chậm thi hành khoản tiền bồi thường còn lại; xử lý vật chứng; nghĩa vụ chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Thủ tục thi hành bản án về phần trách nhiệm dân sự được thực hiện theo hướng dẫn tại Bản án sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 16 tháng 11 năm 2023).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Điền |
Bản án số 864/2023/HSPT ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 864/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
