Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 862/2023/DS-PT

Ngày: 21/8/2023

V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hương

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Kim

Ông Lê Ngọc Tường

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 4 năm 2023, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 911/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2635/2023/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 9842/2023/QĐ-PT ngày 24 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B1; địa chỉ: Tầng A, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà T, số B đường T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (theo Văn bản ủy quyền số: 219/2023/UQ-LPBank.HCM ngày 21 tháng 8 năm 2023) :

  • Ông Nguyễn Phi L; sinh năm 1997; địa chỉ: Số E đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  • Hoặc
  • Ông Lê Thành T, sinh năm: 1986; địa chỉ: Số E đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  • Hoặc
  • Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1984; địa chỉ: Số B đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  • Hoặc
  • Ông Tô Võ Ngọc L1, sinh năm: 1991; địa chỉ: Số E đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  • Hoặc
  • Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1987; địa chỉ: Số E đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  1. Bị đơn:
  • Bà Lưu Thị Hồng D, sinh năm: 1978; địa chỉ: Số A đường T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  • Ông Trần Văn C, sinh năm: 1978; địa chỉ: Số B đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm: 1962 (có mặt);
  • Ông Trần Văn H2, sinh năm: 1954 (vắng mặt);
  • Bà Lê Thị B, sinh năm: 1957 (vắng mặt);
  • Bà Phạm Nguyễn Hoàng D1, sinh năm: 1976 (vắng mặt);
  • Bà Cao Phạm Ánh T2, sinh năm: 1997 (có mặt);
  • Ông Cao Anh T3, sinh năm: 2001 (có mặt);
  • Bà Phạm Nguyễn Ánh T4, sinh năm: 1977 (có mặt);
  • Trẻ Cao Thành A, sinh năm: 2011 (có mặt);

Người đại diện hợp pháp của trẻ Cao Thành A: Bà Phạm Nguyễn Ánh T4, sinh năm: 1977 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp của Phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Vũ Thị T5, sinh năm: 1976; địa chỉ: Số A đường T, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Văn bản ủy quyền số: 831/GUQ-CC3 ngày 04 tháng 11 năm 2022 (vắng mặt).

  • - Phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp của Phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Quốc P, sinh năm: 1969; địa chỉ: Số D đường N, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - Văn bản ủy quyền ngày 11 tháng 11 năm 2022 (có đơn xin vắng mặt).

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hữu H1, bà Phạm Nguyễn Hoàng D1, ông Cao Anh T3, bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 là người đại diện hợp pháp – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 11 năm 2020 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B1, có bà Nguyễn Thị Thu H đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 21 tháng 5 năm 2018, Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 (viết tắt Ngân hàng) và bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C ký hợp đồng tín dụng số: HDTD5052018127 để bà D, ông C vay số tiền 2.500.000.000 đồng; mục đích vay để trả tiền mua bất động sản tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 9 tại số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt nhà đất số A đường T); thời hạn vay 240 tháng (từ ngày 22 tháng 5 năm 2018 đến ngày 22 tháng 5 năm 2038), lãi suất vay các bên thỏa thuận, lãi suất trong hạn 7,5%/năm được điều chỉnh theo phương thức lãi suất định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên khoản nợ bị quá hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số lãi chậm trả. Để đảm bảo khoản vay bà D, ông C và Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 81/2018/HĐTC/PGDDoThanh ngày 04 tháng 6 năm 2018 được Văn phòng Công chứng Nguyễn Văn T6 chứng nhận số công chứng: 009829, quyển số: 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 6 năm 2018, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 05 tháng 6 năm 2018 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số A đường T (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH01426 ngày 03 tháng 6 năm 2013 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Mai Thị Bích V đứng tên chủ sở hữu, đăng ký cập nhật cho ông C, bà D ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số công chứng: 008717, quyển số: 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21 tháng 5 năm 2018 tại Văn phòng C6).

Thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay Ngân hàng đã giải ngân cho ông C, bà D số tiền vay là 2.500.000.000 đồng nhưng ông C, bà D không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi đã cam kết dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nhắc nhở, từ ngày 31 tháng 10 năm 2020 khoản vay đã chuyển sang nợ nhóm 5 (nợ trên 01 năm). Tính đến ngày 19 tháng 8 năm 2022 ông C, bà D đã trả cho Ngân hàng được 462.362.123 đồng (tiền nợ gốc 176.800.121 đồng, tiền nợ lãi 285.562.002 đồng ); số tiền nợ còn lại 3.221.732.162 đồng (tiền nợ gốc 2.323.199.871 đồng, tiền nợ lãi vay trong hạn 710.379.673 đồng, tiền nợ lãi phạt gốc quá hạn 86.181.511 đồng, tiền nợ lãi phạt lãi quá hạn 101.971.100 đồng); tính đến ngày 14 tháng 11 năm 2022 ông C, bà D còn nợ Ngân hàng số tiền 3.308.798.968 đồng (trong đó: nợ gốc 2.323.199.871 đồng; tiền nợ lãi vay trong hạn 764.589.097 đồng; tiền nợ lãi phạt gốc quá hạn: 101.487.029 đồng, tiền lãi phạt lãi quá hạn 119.522.971 đồng).

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C, bà D trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ trên và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo quy định trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết. Trường hợp ông C, bà D không trả thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền tài sản; quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ. Sau khi phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ mà vẫn không trả hết số tiền nợ thì ông C, bà D có nghĩa vụ trả tiếp tục số tiền nợ còn lại cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

* Quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà D, ông C có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến trình bày:

Ngày 22 tháng 5 năm 2018, ông C, bà D có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 số tiền 2.500.000.000 đồng, tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình thực hiện hợp đồng, thời gian đầu ông C, bà D thực hiện việc trả tiền gốc, tiền lãi đầy đủ nhưng thời gian sau không có khả năng trả do dịch C1 ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh du lịch và sự kiện của gia đình. Ông C, bà D thừa nhận còn nợ Ngân hàng số tiền 3.317.802.173 đồng và đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Sau khi Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ mà còn thiếu thì ông C, bà D có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn lại cho đến khi trả xong khoản vay, trường hợp sau khi phát mãi thu hồi nợ còn dư thì Ngân hàng phải có nghĩa vụ trả lại cho ông C, bà D số tiền chênh lệch theo luật định.

* Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu H1 trình bày:

Căn nhà số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc của cha mẹ ông H1 là ông Nguyễn Văn C2 và bà Trần Thị H3 chết để lại. Cha mẹ ông H1 có 07 người con là các ông, bà Nguyễn Hữu S (chết năm: 1999), Nguyễn Thị S1 (chết năm: 1994), Nguyễn Kim S2, Nguyễn Kim S3 (chết năm: 2013), Nguyễn Hữu S4 (chết năm: 1984), Nguyễn Kim Y (chết năm: 1997). Ông H1 là một trong các đồng thừa kế của căn nhà trên. Ngày 07 tháng 5 năm 2013, bà Nguyễn Kim S3 qua đời thì đến tháng 6 năm 2013, bà Mai Thị Bích V đến nhà gặp và báo rằng căn nhà do bà S3 đã bán cho con bà V nên đến để lấy nhà. Bà V cho ông H1 xem bản photocopy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do bà Nguyễn Kim S3 là người đại diện khai thừa kế giấy chứng nhận số: 0129050391 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 13 tháng 5 năm 2003, kèm theo là bản khai nhận di sản do Phòng C4 chứng thực ngày 24 tháng 9 năm 2012.

Quá bất ngờ việc bà Nguyễn Kim S3 cho rằng bà là người thừa kế duy nhất của ông C2 và bà H3, trong khi ông bà có 6 người con khác. Việc Phòng C4 chứng thực bản khai nhận di sản của bà S3 là trái pháp luật, việc mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, căn nhà trên ông H1 và các đồng thừa kế khác không biết, đây là hành vi gian dối của bà S3, do đó ông H1 sẽ khởi kiện trong vụ án khác.

Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 đối với bà D, ông C thì ông H1 không có ý kiến vì không liên quan đến hợp đồng tín dụng giữa các bên. Ông H1 cho rằng ông đang cư trú tại căn nhà trên, việc các bên thế chấp căn nhà để bảo đảm khoản vay là không thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục. Ông H1 đề nghị Tòa án nhân dân Quận 1 xem xét đến quá trình thẩm định, cầm cố, thế chấp, cho vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1.

* Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Nguyễn Hoàng D1 có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng trong bản tự khai ngày 15 thàng 01 năm 2022 bà D1 có ý kiến trình bày:

Bà D1 đang cư trú tại căn nhà số A T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn nhà trên có nguồn gốc của ông C2, bà H3 để lại, khi mẹ bà mất thì có người đến đòi nhà và báo mẹ bà D1 đã bán căn nhà trên, năm 2013 đến nay bà D1 và gia đình bị người tự xưng là chủ nhà quấy rối, tra tấn tinh thần buộc bà D1 và gia đình phải trả nhà, bà D1 đề nghị Tòa án xem xét, giúp đỡ bà D1 và gia đình để có cuộc sống bình an. Vì công việc mưu sinh bà D1 xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Phạm Anh T7 có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng trong bản tự khai ngày 15 thàng 01 năm 2022 bà T7 có ý kiến trình bày:

Bà T7 đang cư trú tại căn nhà số A T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ bao nhiêu năm đến nay, căn nhà trên do ông bà, cha mẹ để lại không thấy ai đến mua bán hay xem nhà nhưng khi bà ngoại bà T7 mất thì có người đến đòi nhà và thông báo bà ngoại bà T7 đã bán nhà cho họ và từ tháng 5 năm 2013 đến nay bà T7 và gia đình bị người tự xưng là chủ nhà quấy rối, tra tấn tinh thần buộc bà T7 và gia đình phải trả nhà, bà T7 đề nghị Tòa án xem xét, giúp đỡ bà T7 và gia đình để có cuộc sống bình an. Do công việc nên bà T7 không thu xếp đến Tòa án được, bà T7 xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Nguyễn Ánh T4, đồng thời là người đại diện hợp pháp của trẻ Cao Thành A; bà T4 có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng trong bản tự khai ngày 15 tháng 01 năm 2022 bà T4 có ý kiến trình bày:

Bà T4 đang cư trú tại căn nhà số A T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ bao nhiêu năm đến nay, căn nhà trên do ông bà, cha mẹ để lại không thấy ai đến mua bán hay xem nhà nhưng khi bà ngoại của bà T4 là bà S3 mất thì có người đến đòi nhà và thông báo bà ngoại bà T4 đã bán nhà cho họ và từ tháng 5 năm 2013 đến nay bà T4 và gia đình bị người tự xưng là chủ nhà quấy rối, tra tấn tinh thần buộc bà T4 và gia đình phải trả nhà, bà T4 đề nghị Tòa án xem xét, giúp đỡ bà T4 và gia đình để có cuộc sống bình an, do công việc mưu sinh bà T4 xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị B, ông Trần Văn H2 và ông Cao Anh T3 cùng có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Hữu H1. Do công việc mưu sinh nên các ông, bà xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng C4 Thành phố Hồ Chí Minh, có bà Vũ Thị T5 đại diện theo ủy quyền trình bày:

Việc kê khai di sản thừa kế do bà Nguyễn Kim S3 thực hiện kê khai vào ngày 24 tháng 9 năm 2012 đã được Phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đầy đủ, đúng quy định thủ tục của pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1, Phòng C4 không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh, có ông Nguyễn Quốc P đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng trong bản tự khai ngày 11 tháng 11 năm 2022 có ý kiến trình bày:

Ngày 31 tháng 01 năm 2013, bà Mai Thị Bích V yêu cầu Phòng Công chứng số 6 Thành phố C5 chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi chứng nhận hợp đồng bà V đã xuất trình phiếu yêu cầu công chứng; chứng minh nhân dân, hộ khẩu của bà Nguyễn Kim S3; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 1707/2003 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 13 tháng 5 năm 2003, đăng ký thay đổi ngày 24 tháng 10 năm 2012; thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất; văn bản khai nhận di sản số công chứng: 24826 do Phòng C4 Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 29 tháng 4 năm 2012. Căn cứ quy định của pháp luật theo hồ sơ bà V xuất trình Phòng C5 đã thụ lý, công chứng viên đã soạn thảo hợp đồng, bà S3 và bà V đã đọc hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, đồng ý ký ghi rõ họ tên trong hợp đồng công chứng số: 4985, quyển số: 01 ngày 31 tháng 01 năm 2013. Phòng Công chứng số 6 Thành phố C5 chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 31 tháng 01 năm 2013 đúng theo trình tự, thủ tục, nội dung pháp luật quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân Quận 1 giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, vì lý do công việc Phòng Công chứng số 6 Thành phố Hồ Chí Minh xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ tính đến ngày 23 tháng 11 năm 2022 là 3.317.802.473 đồng (trong đó: Tiền nợ gốc 2.323.199.871 đồng; tiền nợ lãi vay trong hạn 770.085.656 đồng; tiền lãi phạt gốc quá hạn 103.123.746 đồng; tiền lãi phạt lãi quá hạn tính từ ngày 05 tháng 11 năm 2019 đến ngày 23 tháng 11 năm 2022 là 121.393.200 đồng). Trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ thì nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 68/2018/HĐTC/PGDDoThanh ngày 21 tháng 5 năm 2018; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 81/2018/HĐTC/PGDDoThanh ngày 04 tháng 6 năm 2018 để thu hồi nợ. Sau khi phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ mà không đủ thanh toán các khoản nợ thì bị đơn có nghĩa vụ tiếp tục trả cho nguyên đơn số tiền nợ còn lại cho đến khi trả hết. Nếu sau khi phát mãi tài sản để thu hồi nợ mà còn dư thì nguyên đơn trả lại cho bà D, ông C số tiền còn dư sau khi đã thanh toán các khoản phí theo luật định. Đề nghị các cá nhân, tổ chức đang ở trong căn nhà số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phải dọn ra khỏi nhà khi căn nhà bị phát mãi.

Ông H1 giữ nguyên ý kiến đã trình bày và có ý kiến bổ sung cho rằng việc mua bán, chuyển nhượng, thế chấp nhà đất số A T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là gian dối, chưa thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục khi thế chấp để đảm bảo khoản vay.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 911/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1 buộc bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C trả cho Ngân hàng TMCP B1 số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số: HDTD5052018127 ngày 21 tháng 5 năm 2018 tính đến ngày 23 tháng 11 năm 2022 là 3.317.802.473đ (ba tỷ, ba trăm mười bảy triệu, tám trăm lẻ hai nghìn, bốn trăm bảy mươi ba đồng), [bao gồm: Tiền nợ gốc 2.323.199.871đ (hai tỷ, ba trăm hai mươi ba triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, tám trăm bảy mươi mốt đồng); tiền nợ lãi vay trong hạn 770.085.656đ (bảy trăm bảy mươi triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, sáu trăm năm mươi sáu đồng); tiền lãi phạt gốc quá hạn 103.123.746đ (một trăm lẻ ba triệu, một trăm hai mươi ba nghìn, bảy trăm bốn mươi sáu đồng); tiền lãi phạt chậm trả lãi 121.393.200đ (một trăm hai mươi mốt triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, hai trăm đồng)].

1.1. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23 tháng 11 năm 2022) bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP B1 thì lãi suất mà bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP B1 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP B1.

1.2. Sau khi bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C trả xong số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số: HDTD5052018127 ngày 21 tháng 5 năm 2018; Ngân hàng TMCP B1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BO 915040, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH01426 ngày 03 tháng 6 năm 2013 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Mai Thị Bích V đứng tên đăng ký chủ sở hữu, đăng ký cập nhật chủ sở hữu cho bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số công chứng: 008717, quyển số: 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21 tháng 5 năm 2018 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T6, theo hồ sơ số: 019590.CN.005 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B cập nhật ngày 01 tháng 6 năm 2018; thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 31 tháng 5 năm 2018.

1.3. Đến hạn trả nợ mà bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C không trả được nợ, Ngân hàng TMCP B1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là thửa đất số: 118, tờ bản đồ số: 9, diện tích 50,2m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BO 915040, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH01426 ngày 03 tháng 6 năm 2013 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Mai Thị Bích V đứng tên đăng ký chủ sở hữu, đăng ký cập nhật chủ sở hữu cho bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số công chứng: 008717, quyển số: 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21 tháng 5 năm 2018 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T6, theo hồ sơ số: 019590.CN.005 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, cập nhật ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo quy định pháp luật để thu hồi nợ.

Sau khi phát mãi tài sản trên để thu hồi nợ mà vẫn không trả hết số tiền nợ thì bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C có nghĩa vụ trả tiếp tục số tiền nợ còn lại cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP B1. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản để thu hồi nợ mà còn dư thì Ngân hàng TMCP B1 phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C số tiền còn dư sau khi đã thanh toán các khoản phí theo luật định.

Khi căn nhà số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị phát mãi thì tất cả các cá nhân, tổ chức đang ở trong nhà này phải dọn ra khỏi nhà.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ông Nguyễn Hữu H1, bà Phạm Nguyễn Hoàng D1, ông Cao Anh T3, bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 đại diện hợp pháp kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Nguyễn Hoàng D1 và ông Cao Anh T3 đã nộp đơn rút toàn bộ kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo – ông Nguyễn Hữu H1, bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 đại diện trình bày: Yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm, không đồng ý phát mãi tài sản là nhà đất số A T, Phường C, quận B. Đề nghị được giữ lại tài sản nói trên vì đây là tài sản của cha mẹ để lại.

Ông H1 cung cấp Bản vẽ sơ đồ nhà đất số HĐ 139L.T09ĐLT/2019 ngày 12/9/2019 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ thì nhà đất nói trên có diện tích thực tế: nhà 68,3m², đất 78,6m² và cho rằng diện tích nhà đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01426 ngày 03/6/2013 do Ủy ban nhân dân quận B cấp cho bà Mai Thị Bích V, đăng ký cập nhật cho ông C, bà D ngày 01/6/2018 đối với nhà đất số A T có diện tích đất ở: 50,2m², nhà ở: 43,5m² không đúng với thực tế.

Đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 – ông Nguyễn Phi L: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông H1, bà T4, bà T2 và trẻ A do bà T4 đại diện, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 911/2022/DS-ST ngày 23/11/2022 của Tòa án nhân dân Quận 1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự đã thực hiện thủ tục, trình tự theo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

1- Do bà Phạm Nguyễn Hoàng D1 và ông Cao Anh T3 rút toàn bộ kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà D1 và ông T3.

2- Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông H1, bà T4, bà T2 và trẻ A do bà T4 đại diện, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 911/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa, bị đơn – bà Lưu Thị Hồng D và ông Trần Văn C vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông H2, bà B, bà D1, đại diện Phòng C4 và số 6 vắng mặt mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến lần thứ hai; do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.

[1.2] Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Nguyễn Hoàng D1 và ông Cao Anh T3 đã nộp đơn rút toàn bộ kháng cáo, xét thấy, việc bà D1 và ông T3 có yêu cầu rút toàn bộ kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, đương sự có quyền tự định đoạt yêu cầu của mình; do đó, căn cứ Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà D1 và ông T3.

[2] Về nội dung: Theo đơn kháng cáo của Nguyễn Hữu H1, bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 đại diện có yêu cầu kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 911/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 1 nhưng tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự nêu trên xác định chỉ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc phát mãi tài sản là nhà đất số A T, Phường C, quận B.

[2.1] Đối với yêu cầu yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả số tiền nợ gốc là 2.323.199.871 đồng và tổng cộng các khoản lãi vay, lãi chậm trả và lãi phạt là 994.602.602 đồng, cấp sơ thẩm đã căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn, sự thừa nhận của nguyên đơn và bị đơn, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trên cơ sở các quy định của pháp luật đồng thời không có đương sự nào trong vụ án kháng cáo phần này của bản án sơ thẩm nên xét giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả nợ gốc và lãi nêu trên.

[2.2] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Hữu H1, bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 đại diện đề nghị sửa bản án sơ thẩm không đồng ý phát mãi tài sản là nhà đất số A T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2.2.1] Hội đồng xét xử xét thấy, về nguồn gốc căn nhà số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (dưới đây viết tắt là nhà đất số A đường T).

Theo các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ xác định nhà đất trên của cụ Nguyễn Văn C2 (chết năm: 1982) là cha của bà Nguyễn Kim S3 (chết năm: 2013) đứng tên kê khai từ năm 1977. Ngày 13 tháng 5 năm 2003, Ủy ban nhân dân quận B đã cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số: 1707/2003 cho cụ C2 và vợ là cụ Trần Thị H3 (chết năm: 2000) do bà S3 đại diện khai trình di sản thừa kế.

Theo đơn cam kết xác nhận ngày 16 tháng 8 năm 2012 của bà S3 được Ủy ban nhân dân Phường C7, quận B xác nhận bà S3 cam kết có nội dung: “Nguyên hiện nay tôi có tiến hành lập di sản thừa kế căn nhà số A đường T, Phường C, quận B. Do cha tôi là ông Trần Văn C3 chết năm 1982 chứng tử số 03/82 và mẹ là bà Nguyễn Thị H4 chết năm 2000 chứng tử số 70. Do tôi là con duy nhất của cha mẹ tôi. Vậy tôi cam đoan nội dung cam kết nêu trên là đúng sự thật. Nếu có gì sai trái tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh đã chứng thực Văn bản khai nhận di sản thừa kế của bà S3 ngày 24/9/2012. Ủy ban nhân dân Phường C7, quận B niêm yết văn bản khai nhận di sản của bà S3 ngày 24 tháng 9 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường trong thời hạn 30 ngày theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn niêm yết, không có tranh chấp, khiếu nại về di sản thừa kế nói trên; do đó, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B đã cập nhật sang tên nhà đất số A đường T cho bà S3 ngày 24/10/2012.

Ngày 13 tháng 5 năm 2013 bà S3 đã chuyển nhượng nhà đất trên cho bà Mai Thị Bích V theo Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số: 4985 ngày 31 tháng 01 năm 2013, công chứng tại Phòng C5, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 24 tháng 8 năm 2015, bà V chuyển nhượng cho ông Lê Trí L2 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng: 011933 tại Văn phòng C6. Ngày 21 tháng 6 năm 2017, ông L2 chuyển nhượng cho bà Vũ Thị Thùy T8 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 007066 tại Văn phòng C6. Ngày 16 tháng 11 năm 2017, bà T8 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đức H5 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng 012640 tại Văn phòng C6. Ngày 21 tháng 5 năm 2018, ông H5 chuyển nhượng cho bị đơn theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số công chứng 008717 tại Văn phòng C6.

Cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 116, 117, 118, 119 và Điều 430 Bộ luật Dân sự nhận định vào các thời điểm chuyển nhượng nhà đất nêu trên, việc ký kết hợp đồng phù hợp quy định pháp luật là có cơ sở.

Xét tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, ông H1 thừa nhận bà S3 là con ruột của cụ C3 và cụ H4 tuy nhiên ngoài bà S3 thì cụ C3 và cụ H4 còn có 6 người con khác trong đó có ông H1. Bà S3 khai nhận là con duy nhất của cụ C3, cụ H4 để bổ túc hồ sơ khai nhận di sản của cụ C3, cụ H4 để lại là căn nhà số A đường T và sau đấy chuyển nhượng cho người khác là gian dối, lỗi của bà S3, bà S3 hiện đã chết. Tại Tòa cấp sơ thẩm và phúc thẩm, ông H1 và các đồng thừa kế khác không có yêu cầu độc lập trong vụ án này và sẽ khởi kiện trong vụ án khác. Xét, quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là quyền của đương sự nên Hội đồng xét xử xét dành cho ông H1 và các đồng thừa kế khác của cụ C3, cụ H4 khởi kiện trong một vụ án khác nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[2.2.3] Xét kháng cáo của ông H1 và những người đang cư trú trong căn nhà 1 đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp và cho rằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 81/2018/HĐTC/PGDDoThanh ngày 04 tháng 6 năm 2018 ký giữa bà D, ông C và Ngân hàng B1 được Văn phòng C6 Nguyễn Văn T6 chứng nhận là chưa thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục khi thế chấp để đảm bảo khoản vay.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, theo các chứng cứ nguyên đơn xuất trình tại Tòa án, toàn bộ hồ sơ thế chấp tài sản gồm: hồ sơ pháp lý khách hàng, hồ sơ về tài chính của người vay, tài sản đảm bảo vào thời điểm thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người vay và đặc biệt Thông báo kết quả định giá có ghi nhận hình ảnh trong và ngoài căn nhà 1 đường T là đối tượng trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 81/2018/HĐTC/PGDDoThanh ngày 04 tháng 6 năm 2018 thể hiện Ngân hàng đã thực hiện đúng quy trình thẩm định, phê duyệt khi cho vay theo Quy chế cho vay đối với khách hàng số: 191/2017/QC-HĐQT của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 ban hành ngày 24 tháng 3 năm 2017. Hợp đồng thế chấp đã chứng nhận công chứng, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 05 tháng 6 năm 2018 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B.

Ngoài ra, Tại phiên tòa, ông H1 xác nhận sau khi bà S3 chết thì bà V và một số người khác đến đòi ông giao căn nhà trên do bà S3 đã bán nhưng ông không giao; đến ngày 15 tháng 7 năm 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án số: 218/2015/TLST-DS về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” theo đơn khởi kiện của bà V khởi kiện ông, sau đấy bà V rút đơn khởi kiện theo quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 915/2015/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2015. Tuy nhiên, kể từ khi ông H1 biết bà S3 đã bán căn nhà trên nhưng ông không có biện pháp nào để tự bảo vệ quyền về tài sản của mình, ông cũng không khiếu nại việc bị đơn đã thế chấp căn nhà trên để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án ông H1 không xuất trình được chứng cứ nào để chứng minh hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 81/2018/HĐTC/PGDDoThanh ngày 04 tháng 6 năm 2018 là chưa thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục khi thế chấp để đảm bảo khoản vay như ông H1 trình bày.

Do vậy, xét về nội dung và hình thức hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 81/2018/HĐTC/PGDDoThanh ngày 04 tháng 6 năm 2018 được Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T6 chứng nhận số công chứng: 009829, quyển số: 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04 tháng 6 năm 2018, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 05 tháng 6 năm 2018 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B là phù hợp quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 317, Điều 318, Điều 319 Bộ luật dân sự nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên ngay khi ký kết. Do đó, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không trả được nợ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng nên có cơ sở chấp nhận. Trường hợp bị đơn không trả được nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự; do đó, cần giữ nguyên phần quyết định về việc phát mãi tài sản là nhà đất nói trên đểm đảm bảo trả nợ cho ngân hàng.

Ngoài ra, ông H1 cho rằng thực tế nhà đất số A T nói trên có diện tích thực tế: nhà 68,3m², đất 78,6m² theo Bản vẽ sơ đồng nhà đất số HĐ 139L.T09ĐLT/2019 ngày 12/9/2019 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ chứ không phải diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất số 1707/2003 do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 13/5/2003, tuy nhiên ông H1 cũng thừa nhận diện tích nói trên chưa được công nhận hợp pháp, như đã phân tích ở trên Giấy chứng nhận quyền chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cấp cho bà S3 và bà D ông C thế chấp nhà đất trên cho Ngân hàng B1 là phù hợp quy định pháp luật, nên không chấp nhận yêu cầu đo vẽ và xem xét diện tích thực tế nhà đất nêu trên.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên vẫn giữ nguyên.

Từ những lập luận trên, xét kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm của ông Nguyễn Hữu H1, bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 đại diện không có cơ sở nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc không chấp nhận kháng cáo của các đương sự nêu trên, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 911/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí dân sự sơ thẩm, cấp sơ thẩm đã quyết định phù hợp quy định pháp luật nên giữ nguyên. Bà Phạm Nguyễn Hoàng D1 và ông Cao Anh T3 rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm nên chỉ phải chịu 50% án phí phúc thẩm. Do không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu H1, bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 là người đại diện hợp pháp và giữ nguyên bản án sơ thẩm nên các đương sự nói trên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, riêng ông H1 là người cao tuổi và đã có đơn yêu cầu miễn án phí nên nên áp dụng Điều 2 Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông H1.

Vì các lẽ trên,

  • Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
  • Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự năm 2014,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Phạm Nguyễn Hoàng D1 và ông Cao Anh T3.

2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Hữu H1, bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 là người đại diện hợp pháp, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 911/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh:

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 buộc bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số: HDTD5052018127 ngày 21 tháng 5 năm 2018 tính đến ngày 23 tháng 11 năm 2022 là 3.317.802.473 đồng (ba tỷ, ba trăm mười bảy triệu, tám trăm lẻ hai nghìn, bốn trăm bảy mươi ba đồng), [bao gồm: Tiền nợ gốc 2.323.199.871 đồng (hai tỷ, ba trăm hai mươi ba triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, tám trăm bảy mươi mốt đồng); tiền nợ lãi vay trong hạn 770.085.656 đồng (bảy trăm bảy mươi triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, sáu trăm năm mươi sáu đồng); tiền lãi phạt gốc quá hạn 103.123.746 đồng (một trăm lẻ ba triệu, một trăm hai mươi ba nghìn, bảy trăm bốn mươi sáu đồng); tiền lãi phạt chậm trả lãi 121.393.200 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, hai trăm đồng)].

2.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23 tháng 11 năm 2022) bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 thì lãi suất mà bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần B1.

2.3. Sau khi bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C trả xong số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số: HDTD5052018127 ngày 21 tháng 5 năm 2018; Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BO 915040, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH01426 ngày 03 tháng 6 năm 2013 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Mai Thị Bích V đứng tên đăng ký chủ sở hữu, đăng ký cập nhật chủ sở hữu cho bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số công chứng: 008717, quyển số: 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21 tháng 5 năm 2018 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T6, theo hồ sơ số: 019590.CN.005 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B cập nhật ngày 01 tháng 6 năm 2018; thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 31 tháng 5 năm 2018.

2.4. Đến hạn trả nợ mà bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C không trả được nợ, Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là thửa đất số: 118, tờ bản đồ số: 9, diện tích 50,2m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BO 915040, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH01426 ngày 03 tháng 6 năm 2013 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Mai Thị Bích V đứng tên đăng ký chủ sở hữu, đăng ký cập nhật chủ sở hữu cho bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số công chứng: 008717, quyển số: 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21 tháng 5 năm 2018 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T6, theo hồ sơ số: 019590.CN.005 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, cập nhật ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo quy định pháp luật để thu hồi nợ.

Sau khi phát mãi tài sản trên để thu hồi nợ mà vẫn không trả hết số tiền nợ thì bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C có nghĩa vụ trả tiếp tục số tiền nợ còn lại cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản để thu hồi nợ mà còn dư thì Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C số tiền còn dư sau khi đã thanh toán các khoản phí theo luật định.

Khi căn nhà số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị phát mãi thì tất cả các cá nhân, tổ chức đang ở trong nhà này phải dọn ra khỏi nhà.

3. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ căn nhà số A đường T, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 đã nộp đủ.

4. Về án phí:

4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lưu Thị Hồng D, ông Trần Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 98.356.049 đồng (chín mươi tám triệu, ba trăm năm mươi sáu nghìn, không trăm bốn mươi chín đồng).

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 42.420.082 đồng (bốn mươi hai triệu, bốn trăm hai mươi nghìn, không trăm tám mươi hai đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0030374 ngày 19 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

4.2. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Nguyễn Hữu H1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bà Phạm Nguyễn Hoàng D1 và ông Cao Anh T3 mỗi người phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm là 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng), khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà D1, ông T3 đã nộp mỗi người 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0003185 và số AA/2022/0003184 cùng ngày 22/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; hoàn trả cho bà D1, ông T3 số tiền chênh lệch mỗi người 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng).

Bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 là người đại diện hợp pháp phải chịu án phí dân sự phúc thẩm mỗi người 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà T4, bà T2 và trẻ A do bà T4 đại diện đã nộp mỗi người 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0003158, số AA/2022/0003159 và số AA/2022/0003160 cùng ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T4, bà T2 và trẻ A do bà T4 đại diện đã nộp đủ án phí phúc thẩm

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THA DS TP. HCM;
  • - Chi cục THA DS Quận 1;
  • - TAND Quận 1;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (T/20).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 862/2023/DS-PT ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 862/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Phạm Nguyễn Hoàng D1 và ông Cao Anh T3. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Hữu H1, bà Phạm Nguyễn Ánh T4, bà Cao Phạm Ánh T2, trẻ Cao Thành A do bà Phạm Nguyễn Ánh T4 là người đại diện hợp pháp, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 911/2022/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger