Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 861/2025/DS-PT

Ngày: 31/10/2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu

cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất, chia thừa kế


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Liên Anh
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Hoàng
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Phạm Phương Thảo, Thư
ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Ông Lê Đức Phương, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 31 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 257/2024/TLPT-DS ngày 01/8/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; chia thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 579/2025/QĐ-PT ngày 30/05/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 437/2025/QĐPT-HPT ngày 20/6/2025; Thông báo mở lại phiên toà số 570/2025/TB-TA ngày 28/8/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 769 /2025/QĐPT-HPT ngày 23/9/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 789/2025/QĐPT-HPT ngày 14/10/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đinh Thị V, sinh năm 1968;

    Địa chỉ: Thôn F, xã Y, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Chu Thị Thanh N, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số F, ngõ A N, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội (nay là phường Y, Thành phố Hà Nội) (Giấy ủy quyền ngày 9/9/2022).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Vũ Văn H, Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số D ngõ E H, tổ B phường N, Thành phố Hà Nội.

  2. Bị đơn: Ông Đinh Văn H1, sinh năm 1974;

    Địa chỉ: Thôn F, xã Y, Thành phố Hà Nội.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Lại Huy P – Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Ngõ A phố Đ, phường T, Thành phố Hà Nội.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1956;

    Địa chỉ: Số A, tổ H, ngách E, ngõ B, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường T, Thành phố Hà Nội).

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vàng Thị D, sinh năm 1993; địa chỉ: Số F, ngõ A N, phường Y, Thành phố Hà Nội (giấy ủy quyền ngày 9/9/2022).

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân xã Y, Thành phố Hà Nội;

      Địa chỉ: Thôn C, Y, xã Y, Thành phố Hà Nội.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Khắc S - Chủ tịch UBND.

      Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Trung K1 – Chức vụ: Phó trưởng phòng kinh tế xã Y, Thành phố Hà Nội.

    2. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1956;

      Địa chỉ: Số A, tổ H, ngách E, ngõ B phường T, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường T, Thành phố Hà Nội).

      Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Bà Vàng Thị D, sinh năm 1993; địa chỉ: Số F, ngõ A N, phường Y, Thành phố Hà Nội (giấy ủy quyền ngày 9/9/2022).

    3. Bà Dương Thị Hoàng Y, sinh năm 1962;

      Địa chỉ: Số A ngách D L, quận T, Thành phố Hà Nội (nay là phường T, Thành phố Hà Nội).

    4. Chị Đinh Thị K2, sinh năm 1988 (con của bà Đinh Thị V);
    5. Chị Đinh Thị C, sinh năm 1986 (con của bà Đinh Thị V);
    6. Anh Đinh Văn K3, sinh năm 1991 (con của bà Đinh Thị V);

      Người đại diện theo ủy quyền của chị K2, anh C, anh K3: Bà Chu Thị Thanh N, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số F, ngõ A N, N, T, Hà Nội (nay là phường T, Thành phố Hà Nội) (giấy ủy quyền ngày 9/9/2022).

    7. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974 (vợ của ông H1);
    8. Cháu Đinh Thành D1, sinh năm 2004 (con của ông H1);
    9. Cháu Đinh Thị Huyền A, sinh năm 2003 (con của ông H1);
    10. Cụ Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1940 (mẹ của ông H1, mẹ chồng của bà Đinh Thị V);

      Người đại diện theo ủy quyền của bà T, cháu D1, cháu Huyền A, cụ H2 là ông Đinh Văn H1 (giấy ủy quyền ngày 5/9/2023).

    11. Cụ Đinh Văn B (chết ngày 3-11-2017, bố của ông H1)

      Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ B:

      • Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1959 (anh trai của ông H1);
      • Bà Đinh Thị L, sinh năm 1963 (chị gái của ông H1);
      • Ông Đinh Văn H3, sinh năm 1967 (anh trai của ông H1);
      • Ông Đinh Văn K4, sinh năm 1971 (anh trai của ông H1);
      • Ông Đinh Văn H1, sinh năm 1974
      • Ông Đinh Văn C1, sinh năm 1961 (chết ngày 2-3-2017, anh trai của ông H1);

      Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C1:

      • Bà Kiều Thị V1, sinh năm 1963 (vợ của ông C1);
      • Anh Đinh Kiều C2, sinh năm 1985 (con của ông C1);
      • Chị Đinh Thị Kiều T2, sinh năm 1987 (con của ông C1).

      Cùng trú tại: Thôn F, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội (nay là xã Y, Thành phố Hà Nội)

      Trú tại: Thôn A, xã Y, huyện T, Thành phố Hà Nội (nay là xã Y, Thành phố Hà Nội).

Do có kháng cáo của bà Đinh Thị V là nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Chu Thị Thanh N, ông Đinh Văn H1 là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn bà Đinh Thị V và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Chu Thị Thanh N trình bày:

Năm 1985, bà kết hôn với ông Đinh Văn K5, sau khi kết hôn vợ chồng bà khai hoang một mảnh đất gần nhà để xây dựng nhà cửa và phát triển kinh tế, trồng tre, sắn, keo. Đến năm 1988 vợ chồng bà có xây dựng một ngôi nhà cấp 4 bằng tre và công trình phụ sinh sống trên mảnh đất này. Năm 1992, vợ chồng bà ra ngoài làng ở trên đất của ông Đinh Văn C1, nhà tre, cây trồng vẫn còn trên đất, vợ chồng bà vẫn quản lý, trông nom và thu hoạch. Vợ chồng bà cho vợ chồng ông H3 mượn nhà tre để ở khoảng 2-3 năm thì trả lại đất cho bà, hiện bờ tre trên đất ông H1 đang tranh chấp vẫn là của bà. Cụ B, cụ H2 không ở cùng với vợ chồng bà và cũng không ở trên đất khai hoang. Cụ B, cụ H2 ở cùng ông K4 trên đất của các cụ để lại, cụ B, cụ H2 có khai hoang được một phần đất để trồng chè nhưng là phần đất khác, không phải là phần đất bà chuyển nhượng cho ông K. Năm 1994 Nhà nước có chủ trương kê khai quyền sử dụng đất, bà đã đăng ký, kê khai. Năm 2000 ông Đinh Văn K5 chết. Đến năm 2001, bà chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho ông Nguyễn Văn K với giá chuyển nhượng là 70.000.000 đồng, có lập hợp đồng chuyển nhượng và được UBND xã T xác nhận vào Hợp đồng chuyển nhượng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng, do ông K chưa có nhu cầu sử dụng nên vẫn cho gia đình bà canh tác trên đất. Bà canh tác được một thời gian sau đó cho em chồng bà là ông Đinh Văn H1 mượn đất để canh tác. Số tiền chuyển nhượng đất bà đã mua thửa đất hiện nay bà và các con đang quản lý.

Khi ông K về yêu cầu bà trả lại đất thì bà có tới gặp ông H1 yêu cầu trả lại tài sản mà bà đã cho mượn nhưng ông H1 cố tình không trả mà cho rằng đó là đất của bố mẹ ông H1 cho ông.

Năm 2014, ông Nguyễn Văn K khởi kiện bà yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên, tuy nhiên do gia đình bà rất khó khăn, không có khả năng để thanh toán trả ông K tiền và nguyện vọng của bà vẫn muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất với ông K. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng thửa đất số thửa số 06, diện tích 01ha (10.000m²), khoảnh 5, bản đồ lập năm 1999; địa chỉ thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay thuộc huyện T, Thành phố Hà Nội) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà và yêu cầu ông Đinh Văn H1 và gia đình phải trả lại bà đất để bà giao đất cho ông K. Bà đồng ý với yêu cầu độc lập của ông K về việc yêu cầu công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với ông K, yêu cầu ông H1 trả lại toàn bộ phần đất chiếm trái pháp luật.

Đối với đơn đề nghị ngày 28/01/2021 bà không làm, ông H1 mang đến bảo bà ký, bà không biết nội dung trong đơn ghi gì. Bà có nói với ông H1 chị ký thì phải viết mấy chữ là đất tôi khai hoang và bán lại cho ông K nhưng ông H1 bảo tôi không phải viết, chỉ cần ký. Nay bà không đồng ý với nội dung trong đơn đề nghị ngày 28/01/2021.

Ngày 26/9/2023, bà V sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau:

  • Yêu cầu ông H1 trả lại cho bà toàn bộ diện tích đất lấn chiếm tại thửa số 53, diện tích 9.706,8m², loại đất ONT theo bản đồ năm 2014 xã T, T, Hà Nội.
  • Thực hiện phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định (do ông K5 là chồng của bà đã chết);
  • Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ông K.

Theo Bản giải trình ngày 20/10/2023 của bà V thì hàng thừa kế theo pháp luật của ông K5 gồm:

  1. Cụ Đinh Văn B (bố đẻ, chết ngày 3/11/2017);
  2. Cụ Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1940 (mẹ đẻ);
  3. Bà Đinh Thị V, sinh năm 1968 (vợ);
  4. Chị Đinh Thị C, sinh năm 1986 (con của ông K5, bà V);
  5. Chị Đinh Thị K2, sinh năm 1987 (con của ông K5, bà V);
  6. Anh Đinh Văn K3, sinh năm 1991 (con của ông K5, bà V).

Cụ B, cụ H2 có các người con chung là:

  1. Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1959;
  2. Ông Đinh Viết C3, sinh năm 1961 (chết ngày 2/3/2017)
  3. Bà Đinh Thị L, sinh năm 1963;
  4. Ông Đinh Văn H3, sinh năm 1967;
  5. Ông Đinh Văn K4, sinh năm 1971.

Ông Đinh Viết C3 có vợ là bà Kiều Thị V1 và hai con Đinh Kiều C2 và Đinh Thị Kiều T2.

Tại các phiên hòa giải người đại diện theo ủy quyền của bà V1 tự nguyện thanh toán trả ông H1 công sức trong thời gian quản lý sử dụng đất và tài sản trên phần diện tích đất ông H1 phải trả lại bà V1 nhưng bà V1 không có tiền để thanh toán nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà V1 được thanh toán công sức cho ông H1 bằng quyền sử dụng đất với tổng diện tích khoảng 1.800m². Thực hiện việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật là quyền sử dụng đất nêu trên cho những người thuộc hàng thừa kế của chồng bà là ông Đinh Văn K5 (đã chết ngày 24/6/2000) gồm bố, mẹ, vợ và 03 con của ông K5. Phần thừa kế của bà Đinh Thị V và ba con là chị C, chị K2 và anh K3 từ ông K5 thì tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền đề nghị tòa án phân chia theo quy định của pháp luật. Do bà V đã chuyển nhượng cho ông K nên phần của bà V và các con được chia, phần diện tích đất còn lại sau khi thanh toán công sức cho ông H1, thì bà V đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng cho ông K.

Bị đơn là ông Đinh Văn H1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất thửa số 06, diện tích 01ha (10.000m²), địa chỉ thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay thuộc huyện T, thành phố Hà Nội) là do bố mẹ ông (cụ Đinh Văn B và cụ Nguyễn Thị Kim H2) khai hoang từ những năm 1980, canh tác trồng ngô, khoai, sắn, lúa nương chứ không phải của bà Đinh Thị V khai hoang. Sau đó bố, mẹ ông dựng nhà trên mảnh đất đó để ở. Khoảng năm 1988 cụ B, cụ H2 cho vợ chồng bà Đinh Thị V ở một thời gian ngắn 1-2 năm, tiếp đến cho vợ chồng ông H3 ở một thời gian khoảng 4-5 năm, ông H3 chê heo hút nên vào làng ở. Ông và bố mẹ ông vẫn sống ở đây. Đến năm 2000, ông đi bộ đội về thì cụ B, cụ H2 đã cho ông sử dụng, vợ chồng ông đã xây dựng nhà ở, các chuồng trại chăn nuôi trên đất và thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với Nhà nước. Một số công trình xây dựng từ năm 2000, tường bao và 01 nhà ba gian cấp bốn xây năm 2014, một ngôi nhà 4 gian khác xây năm 2010, 3 dãy chăn nuôi gà lợp mái tôn không rõ năm xây dựng, năm 2022 ông xây dựng nhà bê tông đổ mái bằng diện tích hơn 100m² hiện gia đình ông và cụ H2 đang ở.

Thời gian vợ chồng bà V được cụ B, cụ H2 cho quản lý sử dụng thửa đất, vợ chồng bà V có xây dựng 01 nhà bằng tre nhưng được một thời gian đã bị hư hỏng, mục nát, nay ngôi nhà đó không còn nữa.

Bà V chưa bao giờ ra xã làm thủ tục đăng ký kê khai thửa đất và ông đã có văn bản xác nhận việc bà V chưa đăng ký kê khai cung cấp cho Tòa án. Bà V tự ý bán tài sản của gia đình cho ông K thì anh em trong gia đình ông không biết.

Ông đã cung cấp cho Tòa án bản phô tô giấy cho đất năm 1996 của cụ B, cụ H2 cho ông phần đất này có ông Đinh Văn T1 (anh trại ruột của ông) là trưởng thôn xác nhận (tuy nhiên ông từ chối cung cấp bản chính cho Tòa án) và một số giấy xác nhận làm chứng về nguồn gốc thửa đất tranh chấp là của bố, mẹ ông khai hoang.

Do vậy, có căn cứ khẳng định quyền sử dụng đất tranh chấp là của bố, mẹ ông và đã cho ông từ năm 1996 nên ông đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà Đinh Thị V, không chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn K, tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đinh Thị V và ông Nguyễn Văn K đã được UBND xã T chứng thực, xác nhận ngày 26/11/2001.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Nguyễn Văn K và người đại diện theo ủy quyền của ông K trình bày:

Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 61, diện tích 9.706,8m², loại đất ONT bản đồ đo đạc năm 2014 là đất do bà Đinh Thị V khai hoang, sử dụng. Năm 1994, UBND xã T cho kê khai, đo đạc thể hiện trên bản đồ tại tờ 24D, loại đất ở, kê khai lại theo bản đồ năm 1999 thửa số 6, khoảnh 5, diện tích 1ha. Năm 2001 ông nhận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất từ bà Đinh Thị V, có lập hợp đồng chuyển nhượng được UBND xã T xác nhận ngày 26/11/2001. Các con của bà V là chị C, chị K2 và anh K3 có đơn đề ngày 9/9/2022 công nhận việc chuyển nhượng và xác định không còn quyền lợi gì liên quan đến thửa đất đã chuyển nhượng.

Sau khi nhận chuyển nhượng ông chưa có nhu cầu sử dụng nên cho bà V tiếp tục mượn để sử dụng trồng cây. Đến năm 2004, ông có nhu cầu sử dụng đất, ông yêu cầu bà V bàn giao trả đất thì bà V không trả được vì sau khi ông cho bà V mượn đất, bà V đã cho em chồng là ông Đinh Văn H1 ở nhờ nên bà V không trả ông đất được. Năm 2014, ông đã khởi kiện bà V và yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất hủy Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông và bà V. Quá trình giải quyết vụ án bà V có yêu cầu độc lập với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Văn H1 (là em chồng bà V). Tòa án cấp sơ thẩm đã xử hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông và bà V và buộc bà V phải thanh toán trả ông số tiền 7.500.000.000đồng (Bảy tỷ năm trăm triệu đồng). Do số tiền bà V phải hoàn trả quá lớn, bà V không có khả năng để thanh toán nên bà V yêu cầu Tòa án giữ nguyên hợp đồng chuyển nhượng.

Nay ông yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với gia đình bà Đinh Thị V, yêu cầu ông H1 phải trả lại diện tích đất là thửa đất nêu trên bị chiếm trái pháp luật.

Ông đồng ý trích trả công sức, giá trị tài sản trên đất cho ông H1. Đối với yêu cầu chia thừa kế của bà Đinh Thị V, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Đinh Văn B (khi còn sống) và cụ Nguyễn Thị Kim H2 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp tại thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội là của vợ chồng cụ H2, cụ B khai hoang năm 1980, diện tích đất khai hoang khoảng hơn 1ha phía bắc giáp Hồ Đá dựng của Hợp tác xã T7, phía Nam giáp đất ông Đinh Văn G có 02 mỏm đá mọc dựng, phía Đông giáp đất ông Đinh Văn T1, phía Tây giáp ao của ông Đinh Văn T1 và sử dụng ổn định không có tranh chấp với ai. Khoảng năm 1988, các cụ cho ông K5, bà V ở một thời gian ngắn, do chê heo hút nên đã chuyển vào trong làng để ở, đến năm 1990 cho vợ chồng ông H3 ở khoảng 4-5 năm. Vợ chồng cụ và ông H1 tiếp tục ở trên đất, đến năm 2000 ông H1 đi bộ đội về kết hôn với bà Nguyễn Thị T, sau đó cụ cho vợ chồng ông H1 mảnh đất này.

Quá trình sinh sống các cụ không đăng ký kê khai với chính quyền địa phương và vợ chồng bà Đinh Thị V cũng không kê khai. Việc ông C3 đứng ra bán đất hộ bà V cho ông K là bán trộm tài sản của gia đình cụ. Năm 1996 vợ chồng cụ viết giấy cho ông H1 toàn bộ thửa đất có trưởng thôn là ông Đinh Văn T1 (ông T1 là anh trai của ông H1, con trai cả của các cụ) xác nhận và có xác nhận của những người làm chứng về việc vợ chồng cụ là người khai hoang đất. Do vậy, cụ H2 đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác yêu cầu chia thừa kế của bà V, bác đơn yêu cầu độc lập của ông K, tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công nhận ông H1 có quyền sử dụng đối với phần đất tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Văn K4 trình bày:

Ông K4 giữ nguyên lời trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/9/2019. Cụ thể: Bố mẹ ông là cụ Đinh Văn B (đã chết) và cụ Nguyễn Thị Kim H2. Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp trong vụ án là của bố mẹ ông khai hoang. Bố mẹ ông canh tác, sử dụng ổn định từ đó tới nay, không có tranh chấp với ai. Đến năm 1988, ông K5 và bà V chuyển từ xóm C về đó ở khoảng 2 năm thì chuyển đi nơi khác. Năm 1990, gia đình ông Đinh Văn H3 chuyển tới ở khoảng 3, 4 năm thì lại chuyển đi. Bố mẹ ông vẫn tiếp tục làm nương rẫy, canh tác. Đến khoảng năm 2001, ông Đinh Văn H1 đi bộ đội về và bố mẹ ông cho ông H1 canh tác và sống tại đó cho tới nay. Bố mẹ ông chưa chính thức cho ai thửa đất trên mà chỉ cho các con ai không có chỗ ở thì tới thửa đất đó ở nhờ.

Khoảng năm 2002, 2003 ông Nguyễn Văn K tới đòi đất và nói đã mua của ông C3. Việc mua bán như thế nào ông không biết. Ông tới gặp ông C3 hỏi thì ông C3 bảo “bán đi, tao bán rồi”. Tôi có nói đó là đất của bố mẹ, bố mẹ đã cho ai đâu mà anh bán. Ông không có giấy tờ để chứng minh thửa đất có nguồn gốc là của bố mẹ ông khai hoang. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V về việc buộc ông H1 trả lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp, đất không phải của vợ chồng bà V ông K5 nên bà V không có quyền yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông K5 là ½ diện tích đất tranh chấp, không đồng ý yêu cầu độc lập của ông K về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K với bà V. Trường hợp tòa án thực hiện việc phân chia di sản thừa kế theo yêu cầu của bà V, phần của ông nếu được nhận từ cụ B thì ông từ chối nhận di sản.

Nay ông không liên quan gì tới thửa đất trên nên ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T1 trình bày:

Ông là con cả của cụ B, cụ H2. Phần đất tranh chấp hiện nay giữa bà V với ông H1 nguồn gốc là do bố mẹ của ông khai hoang năm 1980, ông là con cả có tham gia khai hoang cùng, các người con khác có tham gia khai hoang không thì ông không biết. Vợ chồng ông không ở trên đất này mà ở trên đất bên cạnh khoảng 9-10 năm, đến 1994 thì về làng sinh sống. Trước khi ông H1 đến ở thì có thời gian vợ chồng bà V, vợ chồng ông H3 có thời gian ở trên đất nhưng ở bao lâu và khoảng thời gian nào ông không nhớ. Sau đó, ông Đinh Văn H1 cùng gia đình tới ở cho tới nay. Việc mua bán thửa đất giữa ông K và bà V như thế nào ông không biết.

Nay bà V đòi đất ông H1 là không có căn cứ vì thửa đất trên là của cụ B, cụ H2 chứ không phải của bà V. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V về việc buộc ông H1 trả lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp, đất không phải của vợ chồng bà V, ông K5 nên bà V không có quyền yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông K5 là ½ diện tích đất tranh chấp, không đồng ý yêu cầu độc lập của ông K về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K với bà V. Trường hợp tòa án thực hiện việc phân chia di sản thừa kế theo yêu cầu của bà V, phần của ông nếu được nhận từ cụ B thì ông từ chối nhận di sản.

Nay ông không có quyền lợi gì liên quan gì tới thửa đất trên nên ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn H3 trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ B, cụ H2 khai hoang khoảng năm 1982-1983 cùng với các con, mới đầu chỉ khai hoang được một ít sau đó các con ở và mở rộng, canh tác. Năm 1987 – 1989 ông đi bộ đội, khi về thì thấy vợ chồng bà V, ông K5 đang ở trên đất. Năm 1991, vợ chồng ông làm nhà tạm ở trên đất đến 1996 về trong làng sinh sống (lời khai ngày 29-01-2024 ông H3 khai ở trên đất tranh chấp từ 1989 đến 1991). Ông không rõ vợ chồng bà V khai hoang, quản lý, sử dụng đất như thế nào. Khi ở trên đất ông có trồng tre, bạch đàn và có khai hoang mở rộng thêm, diện tích, vị trí cụ thể ông không nhớ. Ông xác định nay không còn quyền lợi gì liên quan đến thửa đất nên không có yêu cầu, đề nghị gì và xin vắng mặt tại Tòa án.

Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V về việc buộc ông H1 trả lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp, đất không phải của vợ chồng bà V, ông K5 nên bà V không có quyền yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông K5 là ½ diện tích đất tranh chấp, không đồng ý yêu cầu độc lập của ông K về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K với bà V. Trường hợp tòa án thực hiện việc phân chia di sản thừa kế theo yêu cầu của bà V, phần của ông nếu được nhận từ cụ B thì ông đồng ý để lại cho cụ H2 quản lý, sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đinh Thị L trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ B, cụ H2 khai hoang, bà là con gái thứ 3 của hai cụ cũng tham gia vào việc cuốc đất khai hoang, trồng màu, thời gian khoảng năm 1980. Ông K5 kết hôn với bà V năm 1985, đến 1987 làm nhà tre trên đất tranh chấp ở khoảng 2 năm thì lại về trên đất của ông, bà cho ở trong xóm. Khi khai hoang cụ B, cụ H2 có làm chòi trông nom, canh tác, nhà ở trong thôn các cụ vẫn ở cùng các con. Cụ B, cụ H2 không ở cùng vợ chồng ông K5, bà V thời gian nào. Ông H1 là con út không tham gia khai hoang, ông H1 ở trên đất thời gian nào thì bà không nhớ. Quan điểm của bà là các cụ để lại đất cho ông H1 thì ông H1 được ở. Bà V, ông C3 bán đất cho ông K thì bà và anh em trong gia đình không biết. Bà xác định nay không còn quyền lợi gì liên quan đến thửa đất nên không có yêu cầu, đề nghị gì và xin vắng mặt tại Tòa án.

Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V về việc buộc ông H1 trả lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp, đất không phải của vợ chồng bà V, ông K5 nên bà V không có quyền yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông K5 là ½ diện tích đất tranh chấp, không đồng ý yêu cầu độc lập của ông K về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K với bà V. Trường hợp tòa án thực hiện việc phân chia di sản thừa kế theo yêu cầu của bà V, phần của bà nếu được nhận từ cụ B thì bà từ chối nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kiều Thị V1 trình bày:

Bà kết hôn với ông C3 năm 1984, vợ chồng ở riêng tại thôn F, không ở cùng cụ B, cụ H2. Bà và ông C3 không khai hoang, sản xuất, canh tác và không ở trên phần đất tranh chấp. Vợ chồng cụ B, cụ H2 có khai hoang nhưng chỉ được một phần, đã cắt trả cho hai cụ khi bà Đinh Thị V chuyển nhượng cho ông K. Đất là do vợ chồng ông K5, bà Đinh Thị V khai hoang, đầu tiên đến ở là có vợ chồng bà V, ông K5 làm nhà tre ở, ở khoảng 4-5 năm, sau đó vợ chồng ông H3 đến ở 1-2 năm rồi ông C3 làm đất đèn (phơi đất đèn) năm 2000. Ông H1 không tham gia gì vào việc khai hoang canh tác thửa đất cho đến thời điểm năm 2000 ông H1 đi bộ đội về, lấy vợ sinh cháu lớn rồi mới vào sinh sống trên đất đến nay. Bà và chồng bà không có quyền lợi gì liên quan đến đất tranh chấp. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V, đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông K với và Đinh Thị V. Về yêu cầu chia thừa kế, phần của bà nếu được nhận từ ông C3 thì bà từ chối nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Kiều C2 trình bày như sau:

Anh là con của ông Đinh Viết C3, bà Kiều Thị V1, nguồn gốc đất tranh chấp của ông, bà nội khai hoang có cho bà Đinh Thị L, ông Đinh Văn K5, Đinh Văn H3 ở một thời gian. Bà V1, ông K5 là thành viên trong gia đình không tự khai hoang phục hóa được mảnh đất trên. Việc mua bán giữa bà V1, ông K không đúng quy định của pháp luật. Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V1, yêu cầu độc lập của ông K. Không đồng ý yêu cầu chia thừa kế của bà V1 vì bà V1, ông K5 không phải là chủ sử dụng của thửa đất. Trường hợp Tòa án chia thừa kế theo yêu cầu của bà V1, phần của anh được nhận từ ông C3 thì anh đồng ý để lại cho cụ H2.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Kiều T2 trình bày:

Chị là con của ông Đinh Viết C3, bà Kiều Thị V1. Nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng thửa đất hiện tranh chấp giữa bà Đinh Thị V với ông H1 chị không biết và không có quyền lợi gì liên quan đến thửa đất. Đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của các đương sự theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông K5 (theo nội dung yêu cầu của bà V) chị không có ý kiến gì, phần của chị nếu được hưởng từ ông C3 chị từ chối nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Hoàng Y trình bày:

Năm 2001, ông K có mua thửa đất số 06 thuộc khoảnh 05 của bà V. Theo bà Y thì tài sản trên là do ông K tự mua bằng tiền riêng của ông K, bà Y không có đóng góp, công sức gì nên việc mua cũng như sở hữu tài sản không liên quan tới bà Y, đây là tài sản riêng của ông K nên bà từ chối tham gia tố tụng. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị C, chị Đinh Thị K2, anh Đinh Văn K3 trình bày:

Các anh chị có cùng quan điểm với mẹ là bà Đinh Thị V và không có yêu cầu gì khác. Các anh chị đã ủy quyền cho bà N tham gia tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn C1 (khi còn sống) trình bày:

Nguồn gốc thửa đất hiện có tranh chấp là đất do vợ chồng ông K5, bà V khai hoang từ lâu. Vợ chồng ông K5 đã làm nhà, ở trên đất đó từ khi sinh cháu thứ 2 là khoảng năm 1988. Thửa đất này có diện tích khoảng 01ha, chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ trước đến nay, trong sổ sách quản lý của UBND xã T đứng tên ông Đinh Văn K5 và bà Đinh Thị V.

Khoảng trước năm 2000, khi ông K5 còn sống, ông bán cho vợ chồng ông K5 một thửa đất nhà ở chỗ khác (vừa bán vừa cho), vợ chồng ông K5 chuyển ra nhà mới ở, chỗ cũ để không, không giao cho ai, bà V vẫn trồng cây, trông nom. Sau đó, ông K5 bị bệnh chết. Mẹ con bà V nheo nhóc, vất vả nên năm 2001, thấy có người đến hỏi mua đất, bà V hỏi ý kiến ông, ông đồng ý và giúp bà V bán thửa đất đó cho ông K ở Hà Nội được 70.000.000đ. Ông là người ký nhận tiền và thực tế ông cũng sử dụng một phần số tiền đó, ông sử dụng 30.000.000đ, bà V sử dụng 40.000.000 đồng. Mua xong, ông K cứ bỏ hoang như thế, không về sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, chị Đinh Thị Huyền A và anh Đinh Thành D1 (vợ, con của ông H1) thống nhất lời trình bày của ông H1 và ủy quyền cho ông H1 tham gia tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T, Thành phố Hà Nội có quan điểm như sau:

Thửa đất số 53, tờ bản đồ 61, diện tích 9.706,8m² (bản đồ 2014) có nguồn gốc do bà Đinh Thị V và ông Đinh Văn K5 khai hoang, sử dụng ổn định từ 1985, đến 1988 làm nhà ở. Năm 1994 khi đo đạc bản đồ thửa đất thể hiện thửa 24D. Năm 1999 thực hiện chủ trương trồng cây phủ xanh đất trống theo dự án PAM của Chính phủ, UBND xã T đã cho bà Đinh Thị V kê khai hồ sơ đối với toàn bộ diện tích đất đã khai hoang, thể hiện tại thửa 6, khoảnh 5, hiện tích 1ha.

Năm 2001, bà V chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông K, hợp đồng có chứng thực của UBND xã T ngày 26/11/2001.

Năm 2004 ông H1 tự ý vào sử dụng đất, dẫn đến tranh chấp với ông K. Theo hồ sơ quản lý của UBND xã T thì thửa đất trên không có tên của ông H1 và cụ B, cụ H2.

Năm 2014 đo đạc lại bản đồ địa chính, toàn bộ diện tích đất được đo đạc lại thành thửa 53, tờ bản đồ 61, diện tích 9.706,8m², loại đất ở nông thôn. Diện tích đo đạc lại có sai số so với bản đồ đo vẽ năm 1994 có sự thay đổi được xác định là sai số kỹ thuật.

Về mục đích sử dụng đất: Theo bản đồ năm 2014 là đất ở nông thôn (ONT), bà V làm nhà từ năm 1988 nên được xác định là đất ở (hạn mức đất sẽ được xem xét tại thời điểm xét duyệt hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định).

Về việc cung cấp hồ sơ, tờ bản đồ, hồ sơ địa chính, biên bản bàn giao và xác định đơn vị đang quản lý hồ sơ đối với thửa đất trên: UBND huyện và các cơ quan chuyên môn của UBND huyện không có hồ sơ cũng như biên bản giao nhận hồ sơ liên quan đến thửa đất tranh chấp (do thửa đất chưa thực hiện các thủ tục hành chính tại cấp huyện, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Các tài liệu khác thu thập được tại UBND xã T gồm: Trang bản đồ năm 1994, trang bản đồ năm 2014, sổ mục kê. Theo quy định của pháp luật thì UBND xã T là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai ở địa phương nên hồ sơ quản lý đất đai đối với thửa đất tranh chấp do UBND xã T quản lý.

Bản án sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V đối với ông Đinh Văn H1.
  2. Công nhận quyền sử dụng thửa đất số thửa đất 53 tờ bản đồ số 61, diện tích 9.706,8m², bản đồ lập năm 2014; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đinh Thị V, ông Đinh Văn K5 (ông Đinh Văn K5 đã chết có người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông K5).
  3. Chia di sản thừa kế phần đất của ông K5 theo pháp luật:
    • Cụ Nguyễn Thị Kim H2 được quyền sử dụng 1.415,6m² đất tại thửa số 53, tờ bản đồ số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, giá trị quyền sử dụng đất là: 1.415,6m² x 605.000 đồng/m² = 856.438.000 đồng và sở hữu tài sản gắn liền với đất, được giới hạn bởi các điểm F.G.H.I.K.F trong sơ đồ kèm theo bản án.
    • Ông H1 được quyền sử dụng 202,2m² đất tại thửa số 53, tờ bản đồ số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, giá trị quyền sử dụng đất của ông H1 được thừa kế là 202,2m² x 605.000 đồng = 122.331.000 đồng và sở hữu tài sản gắn liền với đất.
    • Bà Đinh Thị V, chị K2, chị C và anh K3 mỗi người được hưởng 808,9m² đất.
  4. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đinh Thị V, ông K thanh toán trả ông H1, bà T công sức trông nom, quản lý, tôn tạo đất bằng quyền sử dụng đất có diện tích là 1.800m², giá trị quyền sử dụng đất của ông H1, bà T là: 1.800m² x 605.000 đồng/m² = 1.089.000.000 đồng. Tổng ông H1, bà T được quyền sử dụng 2.002,2m² đất (trong đó có 202,2m² đất là phần ông H1 được hưởng từ chia thừa kế của cụ B) và sở hữu tài sản gắn liền với đất, được giới hạn bởi các điểm E.FK.L.E trong sơ đồ kèm bản án.
  5. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn K, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đinh Thị V và ông Nguyễn Văn K được UBND xã T xác nhận ngày 26/11/2001. Ghi nhận sự tự nguyện của ông K, bà Đinh Thị V, chị K2, chị C, anh K3 giao phần đất được chia thừa kế cho ông K. Ông K được quyền sử dụng 6.289m² tại thửa số 53, tờ bản đồ số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, trị giá: 6.289m² x 605.000 đồng/m² = 3.804.845.000 đồng. Ranh giới đất được giới hạn bởi các điểm A.B.C.D.E.L.M.A trong sơ đồ kèm theo bản án.
  6. Bà Đinh Thị V, cụ H2 không phải thanh toán giá trị tài sản trên đất cho ông Đinh Văn H1 và bà Nguyễn Thị T.
  7. Ông Đinh Văn H1 và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả ông Nguyễn Văn K quyền sử dụng 6.289m² tại thửa số 53, tờ bản đồ số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Ông H1, bà T có trách nhiệm di dời tài sản trên đất để trả lại quyền sử dụng diện tích đất nêu trên cho ông K.
  8. Ông Đinh Văn H1 và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cụ Nguyễn Thị Kim H2 quyền sử dụng 1.415,6m² đất tại thửa số 53, tờ bản đồ số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Ông H1, bà T có trách nhiệm di dời tài sản trên đất để trả lại quyền sử dụng diện tích đất nêu trên cho cụ H2.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm nguyên đơn bà Đinh Thị V và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Chu Thị Thanh N, bị đơn là ông Đinh Văn H1 kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Về nguồn gốc thửa đất, UBND xã T và UBND huyện T có văn bản xác định thửa đất số 53, tờ bản đồ số 61, diện tích 9.706,8m², loại đất ONT Bản đồ đo đạc năm 2014 là đất do bà Đinh Thị V và ông Đinh Văn K5 khai hoang, sử dụng. Do đó việc bà V chuyển nhượng thửa đất trên cho ông K là phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V, ông K; công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng ngày 26/11/2001; buộc ông Đinh Văn H1 và bà Nguyễn Thị T trả lại thửa đất trên sau khi chia thừa kế theo quy định của pháp luật và trích trả công sức duy trì, tôn tạo cho ông H1, bà T là 1800.000m², phần đất còn lại trả cho Nguyễn Văn K.

Bị đơn ông Đinh Văn H1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày:

Thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do cụ B cụ H2 khai hoang, không đất của vợ chồng bà V khai hoang. Hai cụ đã có văn bản cho ông H1 đất từ năm 1996.

Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà Đinh Thị V; không chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn K; tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đinh Thị V và ông Nguyễn Văn K đã được UBND xã T chứng thực, xác nhận ngày 26/11/2001. Công nhận quyền sử dụng thửa đất trên là của vợ chồng cụ H2 đã cho ông H1.

HĐXX công bố lời khai của các đương sự vắng mặt

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

  • Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội. Cụ thể:
    • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà V:

      Xác định thửa đất tranh chấp là của vợ chồng cụ H2 và vợ chồng bà V khai hoang. Trích công sức tông tạo, giữ đất cho ông H1 bằng 1.800m².

      Vợ chồng cụ H2 và vợ chồng bà V có công sức ngang nhau trong việc khai hoang nên mỗi bên được sử dụng ½ diện tích đất.

      Chia tài sản chung của vợ chồng cụ B, cụ H2. Di sản của cụ B tạm giao cho cụ H2 quản lý cho đến khi các thừa kế của cụ B có yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ B.

      Chia tài sản chung của vợ chồng ông K5; chia thừa kế của ông K5 cho các thừa kế của ông K5 và chia di sản của cụ B được nhận từ ông K5 cho các thừa kế của cụ B.

      Chia hiện vật cho cụ H2, bà V và ông H1 trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất.

      Ông H1 phải di dời tài sản trên diện tích đất giao cụ H2 và bà V.

    • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông K về việc công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đinh Thị V và ông Nguyễn Văn K được UBND xã T xác nhận ngày 26/11/2001.
    • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đinh Thị V và ông Nguyễn Văn K được UBND xã T xác nhận ngày 26/11/2001 vô hiệu.
    • Dành quyền khởi kiện yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu bằng vụ kiện dân sự khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Đinh Thị V và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Chu Thị Thanh N, bị đơn là ông Đinh Văn H1 nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà V, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã Y, ông K có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt. HĐXX xét xử vắng mặt các đương trên theo quy định tại Khoản 2 Điều 296 BLTTDS.

Về nội dung:

Về nguồn gốc:

Theo Báo cáo của UBND xã T và Công văn 1679/UBND-TNMT ngày 14/11/2019 của UBND huyện T: Thửa đất tranh chấp có nguồn gốc là đất khai hoang của hộ bà V sử dụng trước năm 1994. Năm 1994 khi đo đạc bản đồ, thửa đất bà Đinh Thị V khai khoang, sử dụng được thể hiện tại tờ bản đồ 24D gồm: thửa 56, diện tích 4.800m²; thửa 58 diện tích 340m²; thửa 59 diện tích 342m² và thửa 74 diện tích 5.016m². Theo báo cáo của UBND xã T thì Bản đồ năm 1994 đo thành nhiều thửa đất do cán bộ kỹ thuật căn cứ địa hình để khoanh vẽ hình thể thửa đất. Sổ mục kê để trống tên người sử dụng là do thời điểm đó UBND xã chủ trương cập nhật họ tên chủ sử dụng đất khi chủ sử dụng đất đến kê khai hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ tiến hành ghi tên vào sổ mục kê. Đến năm 1999, thực hiện chủ trương trồng cây phủ xanh đất trống theo dự án của Chính phủ, hạt kiểm lâm huyện L, tỉnh Hòa Bình, UBND xã T đã cho bà V kê khai hồ sơ đối với toàn bộ diện tích đất đã khai hoang để trồng cây và hưởng chế độ chính sách theo dự án thể hiện là thửa đất số 06, khoảnh 5, diện tích 1ha (theo bản đồ năm 1999). Theo bản đồ này thì thửa đất này lại là đất lâm nghiệp và năm 1999 bà V kê khai là đất lâm nghiệp.

Theo hệ thống bản đồ hiện nay đang sử dụng là hệ thống bản đồ lập năm 2014, thửa đất đang có tranh chấp là thửa đất số 53 tờ bản đồ số 61 diện tích 9.706,8m², loại đất ONT. UBND xã T xác định tổng diện tích các thửa đất của bà Đinh Thị V theo bản đồ năm 1994 có sự thay đổi so với bản đồ 2014 được xác định do bản đồ năm 1994 là bản đồ khoanh vẽ, có nhiều sai số kỹ thuật. Bản đồ năm 2014 được xác định là đúng với ranh giới, vị trí thửa đất từ khi khai hoang đến nay không thay đổi, lấn chiếm, tranh chấp với hộ liền kề.

Theo các văn bản của UBND xã T và UBND huyện T thì năm 1999 Hạt kiểm lâm huyện L có lập bản đồ giao đất, giao rừng và khoán rừng (khoanh vẽ) theo Nghị định 02 của Chính phủ thì thửa đất tranh chấp là thửa 06 diện tích 1ha thuộc khoảnh số 5, loại đất lâm nghiệp. Tại Biên bản xác minh ngày 28/5/2015 Hạt Kiểm lâm huyện L trả lời theo số liệu Hạt Kiểm lâm lưu giữ thì không có ai tên Đinh Thị V có địa chỉ tại xóm T, xã T.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu Hạt kiểm lâm huyện L và UBND huyện L cung cấp hồ sơ địa chính liên quan đến thửa đất đang có tranh chấp nhưng Hạt kiểm lâm huyện L và UBND huyện L không cung cấp được vì lý do năm 2008 xã T chuyển về huyện T, Thành phố Hà Nội theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29 tháng 5 năm 2008 về việc điều chỉnh địa giới hành chính, nên toàn bộ hồ sơ địa chính và các tài liệu có liên quan đến việc quản lý đất đai tại xã T đã được bàn giao cho UBND huyện T quản lý và tại Công văn số 434/TNMT ngày 17/9/2019 của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T cũng không cung cấp được cho Tòa án hồ sơ địa chính liên quan đến việc quản lý đất đai tại xã T. Các cơ quan quản lý về đất đai huyện T và huyện L, tỉnh Hòa Bình cũng không cung cấp được các văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch sử dụng đất của xã T chuyển từ đất ở sang đất rừng và từ đất rừng sang đất ở. Ngoài ra, Tòa án đã yêu cầu UBND huyện T, Phòng TNMT huyện Thạch Thất, UBND huyện L, Phòng TNMT huyện Lương Sơn cung cấp biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu giữa các cơ quan để xác định đơn vị nào đang quản lý hồ sơ địa chính đối với thửa đất trên nhằm thu thập hồ sơ địa chính về thửa đất. Tuy nhiên, các cơ quan này không cung cấp được biên bản bàn giao hồ sơ liên quan đến thửa đất tranh chấp. UBND huyện T và các cơ quan chuyên môn của UBND huyện không có hồ sơ, biên bản giao nhận hồ sơ liên quan đến thửa đất số 53, tờ bản đồ 61 do thửa đất chưa thực hiện các thủ tục hành chính tại cấp huyện, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Kết quả xác minh nhân khẩu hộ bà Đinh Thị V thời điểm năm 1994 – thời điểm hộ bà V kê khai đứng tên thửa đất tranh chấp Bản đồ địa chính năm 1994, Công an huyện L trả lời năm 2008 xã T sáp nhập về huyện T đã bàn giao toàn bộ tàng thư nhân hộ khẩu của công dân xã T về Công an huyện T quản lý theo quy định. Công an huyện T và Công an xã T qua tra cứu, xác minh tàng thư hộ khẩu và sổ sách tài liệu lưu giữ không có thông tin hộ khẩu của hộ bà Đinh Thị V tại thời điểm năm 1994.

Qua xác minh tại UBND xã T, UBND huyện T thì Bản đồ 1994 thể hiện hộ bà V đứng tên sử dụng. Tuy nhiên, trong Sổ mục kê lại không có tên người sử dụng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai 2013 thì người sử dụng đất có tên trong Sổ địa chính và các Giấy tờ khác được coi là có Giấy tờ hợp pháp nếu Giấy tờ đó được xác lập trước ngày 15/10/1993. Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai cũng không có quy định Bản đồ địa chính lập sau 15/10/1993 là Giấy tờ về đất đai theo quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai. Việc hộ bà V có tên trong Bản đồ địa chính năm 1994 không được coi là trường hợp có giấy tờ về đất đai theo quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai.

Nguyên đơn bà V và các con cho rằng đất là do vợ chồng bà V khai hoang từ năm 1985. Bị đơn ông H1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là cụ H2, cụ B, các anh em nhà ông H1 gồm ông T1, ông K4, ông H3, bà L đều cho rằng thửa đất trên là do cụ B, cụ H2 khai hoang từ năm 1980. Hiện hai cụ cho ông H1 sử dụng.

Tại BL 47, 850 bà V khai bà kết hôn năm 1985, sau khi kết hôn ông K5 ở rể nhà bà đến 1988 ra khai hoang. Khi ra có làm nhà tre bố mẹ làm cho. Năm 1992 ra ngoài làng ở trên đất của ông C1. Năm 1994 có kê khai đất với trưởng thôn, còn việc đứng tên trên bản đồ, hồ sơ ở xã thế nào bà không biết.

BL 12 Biên bản hoà giải ngày 07/8/2014 ông T3 địa chính trình bày năm 1998 bà V có đơn để cấp đất, không tranh chấp với ai.

Lời khai của bà V và trình bày của UBND xã T không thống nhất với nhau về thời điểm kê khai và UBND xã cũng không cung cấp được đơn xin cấp đất của bà V.

BL71 Biên bản làm việc 27/4/2014 có nội dung: Đến năm 1999, thực hiện chủ trương giao đất lâm nghiệp ... Tại thời điểm đó bà V đã kê khai để được cấp GCN đất lâm nghiệp nhưng chưa được cấp...... Theo lời khai của bà V thì bà V ra ở trên đất của ông C1 từ năm 1992. Hồ sơ thu thập được không có tài liệu kê khai đất của bà V.

BL 58 cụ B, cụ H2 khai vợ chồng khai hoang cho K5, H1 ra ở. BL 57 C1 khai cụ H2, cụ B khai hoang khoảng 2 đến 3 sào

Các thành viên trong gia đình cụ B cụ H2 đều thống nhất xác định cụ B cụ H2 là người khai hoang và có cho các con là vợ chồng ông K5, ông H3 và ông H1 ra ở. Lời khai này phù hợp với thực tế sử dụng đất và lời khai của các nhân chứng là ông Đ, ông Đ1, ông T4 khai có thấy cụ B cụ H2 khai hoang nhưng không rõ diện tích khai hoang là bao nhiêu. BL 849 ông T5 khai cụ B cụ H2 có khai hoang nhưng không nhiều, chủ yếu là H3, V, K5. Ông Nguyễn Văn B1 xác định khoảng năm 1970 có khai hoang đất gần khu vực đất tranh chấp, thấy cụ B, cụ H2 có khai hoang đất, năm 1977 ông đi bộ đội đến 1979 về thì không vào khai hoang nữa. Ông Kiều Lương T6 xác nhận năm 1980 có khai hoang phần đất phía bên trong phần đất tranh chấp trong khoảng thời gian 3-4 năm, sau đó trâu bò phá nên ông không vào đất khai hoang để làm nữa, ông có thấy cụ B, cụ H2 khai hoang. Lời khai của ông C1 là người giúp bà V bán đất cho ông K cũng thừa nhận cụ H2 cụ B khai hoang khoảng 2-3 sào, còn lại do vợ chồng ông K khai hoang.

Theo Báo cáo số 53 ngày 29/6/2023 của UBND xã T thì vợ chồng bà V khai hoang và sử dụng liên tục từ năm 1985. Thực tế, bà V kết hôn với ông K5 năm 1985, đến năm 1988 mới ra ở trên đất. Năm 1990 xây nhà trên đất. Năm 1992 ra ngoài ở trên đất của ông C1 đổi. Ông H3 có vào đất ở khoảng 2,3 năm. Năm 2000 thì ông H1 vào ở. Xác nhận của UBND xã T về việc sử dụng đất của bà V là không phù hợp với thực tế sử dụng đất.

Như vậy, Thửa đất tranh chấp có nguồn gốc là đất khai hoang, vợ chồng bà V và vợ chồng cụ H2 đều không xuất trình được các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai. Diễn biến quá trình sử dụng đất cho thấy cụ B cụ H2 là người khai hoang trước, sau đó vợ chồng bà V lại tiếp tục khai hoang và sử dụng đất. Vợ chồng bà V có thời gian ở trên đất sau đó là các con của cụ B, cụ H2 vào ở và khai thác. Đủ cơ sở xác định vợ chồng cụ H2 và vợ chồng bà V cùng khai hoang thửa đất trên. Bản án sơ thẩm xác định thửa đất tranh chấp là của vợ chồng bà V khai hoang là không có căn cứ.

Từ phân tích trên có đủ căn cứ để xác định nguồn gốc thửa đất 53 tờ bản đồ số 61, diện tích 9.706,8m² bản đồ lập năm 2014 địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội, là đất ở, do vợ chồng cụ B, cụ H2 và vợ chồng bà V, ông K5 khai hoang.

Các nhân chứng đều không xác định được cụ thể diện tích khai hoang của vợ chồng cụ B và vợ chồng bà V. Tuy nhiên, thời điểm vợ chồng bà V khai hoang năm 1988 thì các con của bà V còn nhỏ. Chị C sinh năm 1986, chị K2 sinh năm 1988, anh K3 sinh năm 1991 nên việc khai hoang sẽ bị hạn chế. Do đó để bảo đảm quyền lợi của các đương sự xác định công sức khai hoang của vợ chồng cụ B và vợ chồng bà V là như nhau, mỗi bên được sử dụng ½.

Về công sức:

Ông H1, bà T sử dụng đất từ khoảng năm 2001 cho đến nay, có nhiều công sức trong việc trông nom, tôn tạo đất. Tại cấp sơ thẩm, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến tại các lời khai và các biên bản hòa giải, đồng ý thanh toán công sức cho ông H1, bà T nhưng không có điều kiện để trả bằng tiền và đề nghị thanh toán bằng một phần diện tích đất 1.800m² để ông H1, bà T ổn định cuộc sống.

Bà V kháng cáo không đồng ý trích công sức cho H1 1.800m². Bị đơn ông H1 kháng cáo đề nghị trích tăng công sức. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà V đề nghị HĐXX trích công sức cho ông H1 là 1.800m² như quyết định của bản án sơ thẩm.

Nhận thấy, bà V ra ở trên đất của ông C1 đổi từ năm 1992. Con cụ B cụ H2 là ông H3 vào ở trên một thời gian đến năm 2000 ông H1 vào ở. Diện tích đất khai hoang rất lớn nên vợ chồng ông H4 cũng có nhiều công sức trong việc giữ đất và tôn tạo đất nên bản án sơ thẩm trích công sức cho vợ chồng ông H1 là 1.800m² là phù hợp.

Sau khi trích công sức cho ông H4 diện tích đất còn lại là 9.706,8m² – 1.800m² = 7.906,8m². Vợ chồng cụ B và vợ chồng ông K, mỗi bên được sử dụng ½ là 3.953,4m². Do cụ B chết, các thừa kế của cụ B chưa có yêu cầu chia thừa kế của cụ B nên tạm giao cụ H2 quản lý. Nếu các đương sự có yêu cầu chia thừa kế sẽ khởi kiện vụ án dân sự khác.

* Xét yêu cầu chia thừa kế của bà Đinh Thị V đối với phần di sản của ông K5 trong khối tài sản trên, thấy:

Ông Đinh Văn K5 chết ngày 24/6/2000, không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của ông K5 gồm: Cụ Đinh Văn B (đã chết ngày 3/11/2017), cụ Nguyễn Thị Kim H2, bà Đinh Thị V, chị Đinh Thị K2, chị Đinh Thị C và anh Đinh Văn K3.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ B gồm: Cụ Nguyễn Thị Kim H2, ông Đinh Văn T1, bà Đinh Thị L, ông Đinh Văn H3, ông Đinh Văn K4 và ông Đinh Văn C1 (đã chết ngày 2/3/2017) và ông Đinh Văn H1.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông C1 gồm: Cụ Nguyễn Thị Kim H2, bà Kiều Thị V1, anh Đinh Kiều C2 và chị Đinh Thị Kiều T2.

Xác định phần di sản thừa kế của ông K5 trong khối tài sản chung với bà Đinh Thị V là 3.953,4m²: 2 = 1.976,7m².

Chia theo pháp luật phần di sản của ông K5 bằng hiện vật cho bà Đinh Thị V, chị K2, chị C và anh K3, cụ B, cụ H2: 1.976,7m²: 6 = 329,45m² đất. Cụ B, cụ H2, bà Đinh Thị V, chị K2, chị C và anh K3 mỗi người được hưởng 329,45m² đất.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị K2, chị C và anh K3 giao toàn bộ diện tích đất được chia cho bà Đinh Thị V. Tổng diện tích đất bà V được nhận là 329,45m² x 4 = 1.317,8m².

Do cụ B chết ngày 3/11/2017 nên phần di sản của cụ B hưởng từ ông K5 được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ B gồm: Cụ H2, ông T1, bà L, ông K4, ông H3, ông C1, ông H1. Tuy nhiên, do ông C1 chết trước cụ B nên con của ông C1 là anh C2, chị T2 được hưởng phần của ông C1 (thừa kế thế vị, bà Kiều Thị V1 là vợ ông C1 không được hưởng thừa kế theo Điều 625 BLDS). Bà L, ông K4, ông T1, chị T2 đã có lời khai từ chối nhận phần di sản của cụ B nên phần di sản của cụ B được chia theo pháp luật cho cụ H2, ông H3, ông H1 và anh C2 là 329,45m²: 4 = 82,36m².

Ông H3, anh C2 đồng ý để lại phần di sản được hưởng cho cụ H2 nên tổng số cụ H2 được hưởng là: 329,45m² + (82,36m² x 3)= 576,53m² đất.

Tài sản chung của cụ H2 cụ B và di sản được nhận từ ông K5 là 3.953,4m² + 576,53m² = 4.529,93m².

Ông H1 được trích công sức và hưởng thừa kế từ cụ B là: 1.800m² + 82,36m² = 1.882,36m²

Tài sản chung của bà Đinh Thị V được chia và được hưởng thừa kế từ ông K5 là: 1.976,7m² + 1.317,8m² = 3.294,5m².

Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/7/2023 và Biên bản định giá tài sản ngày 9/8/2023 thì tổng tài sản ông H1, bà T phát triển trên đất có giá trị là: 2.094.150.800 đồng (công trình xây dựng: 2.039.161.000 đồng; giá trị cây trồng trên đất: 54.989.800 đồng); Giá trị quyền sử dụng đất là: 9.706,8m² x 605.000 đồng/m² = 5.872.614.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng đất, ông H1 và bà T xây dựng các công trình trên đất. Việc ông H1 bà T xây dựng nhà không được sự đồng ý của bà V và có một số tài sản xây dựng trong thời gian đất có tranh chấp. Ông H1, bà T phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để trả lại đất cho cụ H2 và bà V.

Do ông H1 bà T đã xây nhà bê tông kiên cố trên đất nên giao phần đất có xây dựng nhà cho vợ chồng ông H1 để ổn định cuộc sống.

Bà Đinh Thị V, cụ Nguyễn Thị H2 và ông Đinh Văn H1, bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất cụ thể như sau:

  • Bà Đinh Thị V được quyền sử dụng 3.294,5m² đất tại thửa số 53, tờ bản đố số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội, trị giá: 1.993.172.000 đồng. Ông H1 có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản trên đất để trả lại phần đất cho bà V.
  • Cụ Nguyễn Thị Kim H2 được quyền sử dụng 3.776,3m² đất tại thửa số 53, tờ bản đố số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội, giá trị quyền sử dụng đất là: 2.284.661.500 đồng. Ông H1 tự nguyện không yêu cầu cụ H2 thanh toán giá trị tài sản trên đất và công trông nom, tôn tạo đối với phần đất cụ H2 được chia thừa kế nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Ông Đinh Văn H1 và bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng 2.636m² tại thửa số 53, tờ bản đồ số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội, giá trị quyền sử dụng đất của ông H1, bà T là 1.594.780.000 đồng và sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Ông H1 phải thanh toán cho cụ H2 chênh lệch tài sản được nhận là: 2.636m²- 1.882,36m²= 753.64m² x 605.000đ/m² = 445.952.200 đồng.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông H1 đề nghị HĐXX công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp là của ông H1 được vợ chồng cụ B cho nhưng quá trình giải quyết vụ kiện ông H1 không có yêu cầu phản tố nên HĐXX không xem xét.

Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn K và bà Đinh Thị V:

Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn K có đơn yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đại diện theo ủy quyền của ông K có yêu cầu sau khi Tòa án phân chia di sản thừa kế của ông K5, trích trả công sức trông nom, tôn tạo đất cho ông H1, bà T thì giao phần đất còn lại cho ông K quản lý, sử dụng và ông H1 có trách nhiệm di dời tài sản trên đất.

Đại diện của bà V đồng ý với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giữa bà V với ông K và yêu cầu Tòa án giao phần đất còn lại sau khi phân chia thừa kế của ông K5.

Như phân tích trên thửa đất số 61, tờ bản đồ số 53 (bản đồ đo đạc năm 2014) có nguồn gốc do vợ chồng cụ B cụ H2 và vợ chồng bà V khai hoang. Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà V và ông K được UBND xã T xác nhận ngày 26/11/2001. Thời điểm bà V và ông K giao kết hợp đồng bà V không có các loại giấy tờ để chứng minh là chủ sử dụng đất. Hai bên xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cơ sở có xác nhận của UBND xã T. Theo Bản đồ 1999 thửa đất tranh chấp là đất lâm nghiệp. Ông K có hộ khẩu tại Hà Nội không phải là người địa phương nên việc các bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng không phù hợp với quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên vô hiệu theo quy định tại Điều 131,133,136 BLDS 1995. Bản án sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng giữa bà V và ông K có hiệu lực pháp luật là không có căn cứ, nên sửa án sơ thẩm. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông K về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà V trình bày: Trường hợp HĐXX tuyên hợp đồng chuyển nhượng giữa quyền sử dụng đất giữa bà V và ông K vô hiệu thì đề nghị HĐXX giao toàn bộ diện tích đất bà V được nhận cho ông K. Tuy nhiên, do bà V và ông K không có yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu trong vụ kiện này nên nếu bà V và ông K không thỏa thuận được về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì có quyền khởi kiện vụ kiện dân sự khác.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Đinh Thị V và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Chu Thị Thanh N,

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn là ông Đinh Văn H1.

Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm:

Do sửa án sơ thẩm bà V, ông H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí đã nộp.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Đinh Thị V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Bà V phải chịu 71.795.175 đồng án phí có giá ngạch. Đối trừ với số tiền 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu số 004523, ngày 08/6/2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội, bà V còn phải nộp 71.595.175 đồng.

Ông Đinh Văn H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 2.491.390 đồng án phí có giá ngạch.

Cụ Nguyễn Thị Kim H2 được miễn án phí dân sự sơ thẩm .

Ông Nguyễn Văn K được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông K được nhận lại 200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 07555 ngày 17/10/2014 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 161, 163, 166, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự 2015;
  • Điều 100, 101, 103 Luật đất đai;
  • Khoản 2 Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V.

    Xác định thửa số 53, tờ bản đồ số 61 bản đồ lập năm 2014 diện tích 9.706,8m² tại thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội là tài sản chung của vợ chồng cụ Đinh Văn B, cụ Nguyễn Thị Kim H2 và vợ chồng ông Đinh Văn K5 bà Định Thị V2.

    Trích công sức cho ông Đinh Văn H1 là 1.800m². Diện tích còn lại là 7.906,8m²

  • Chia tài sản chung của vợ chồng cụ Đinh Văn B, cụ Nguyễn Thị Kim H2 và vợ chồng ông Đinh Văn K5, bà Định Thị V2, mỗi bên được sử dụng ½ là 3.953,4m².

    Chia tài sản chung của cụ Đinh Văn B, cụ Nguyễn Thị Kim H2 mỗi cụ ½ là 1.976,7m². Do cụ B chết, các đương sự chưa có yêu cầu chia di sản của cụ B nên tạm giao diện tích này cho cụ Nguyễn Thị Kim H2 quản lý.

    Chia tài sản chung của vợ chồng ông Đinh Văn K5, bà Định Thị V2 mỗi bên được sử dụng ½ là 1.976,7m².

  • Chia thừa kế di sản của ông Đinh Văn K5 bằng hiện vật cho bà Đinh Thị V, chị K2, chị C và anh K3, cụ B, cụ H2: 1.976,7m²: 6 = 329,45m² đất. Cụ B, cụ H2, bà Đinh Thị V, chị K2, chị C và anh K3 mỗi người được hưởng 329,45m² đất.

    Ghi nhận sự tự nguyện của chị K2, chị C và anh K3 giao toàn bộ diện tích đất được chia cho bà Đinh Thị V. Tổng diện tích đất bà V được nhận là 329,45m² x 4 = 1.317,8m².

  • Chia thừa kế di sản của cụ B được hưởng từ ông K5 cho cụ H2, ông T1, bà L, ông K4, ông H3, ông C1, ông H1. Kỷ phần của ông C1 do anh C2, chị T2 được hưởng.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà L, ông K4, ông T1, chị T2 từ chối nhận phần di sản của cụ B. Phần di sản của cụ B được chia theo pháp luật cho cụ H2, ông H3, ông H1 và anh C2 là 329,45m²: 4 = 82,36m².

    Ghi nhận sự tự nguyện của ông H3, anh C2 đồng ý để lại phần di sản được hưởng cho cụ H2. Tổng số cụ H2 được hưởng là: 329,45m² + (82,36m² x 3) = 576,53m² đất.

Tài sản chung của cụ H2 cụ B và di sản cụ H2 được nhận là 3.953,4m²+ 576,53m² = 4.529,93m².

Di sản ông H1 được nhận và công sức là: 82,36m²+ 1.800m² = 1.882,36m²

Tài sản chung của bà Đinh Thị V được chia và được hưởng thừa kế từ ông K5 là: 1.976,7m²+ 1.317,8m² = 3.294,5m².

Chia hiện vật cụ thể như sau:

  • Giao bà Đinh Thị V, được quyền sử dụng 3.294,5m² tại thửa số 53, tờ bản đố số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội (nay là xã Y, Thành phố Hà Nội), có giá trị là: 1.993.172.000 đồng. Được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9',19, 20,1 trên sơ đồ kèm theo bản án.

    Ông H1 có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản trên đất để trả lại phần đất cho bà V.

  • Giao ông Đinh Văn H1 và bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng 2.636m² tại thửa số 53, tờ bản đồ số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội (nay là xã Y, Thành phố Hà Nội), có giá trị là 1.594.780.000 đồng và sở hữu tài sản gắn liền với đất. Được giới hạn bởi các điểm 12', 12, 13, 14, 15,16,17,17', 12' trên sơ đồ kèm theo bản án.
  • Giao cụ Nguyễn Thị Kim H2 được quyền sử dụng 3.776,3m² đất tại thửa số 53, tờ bản đồ số 61 bản đồ lập năm 2014 tại thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội (nay là xã Y, Thành phố Hà Nội), có giá trị là: 2.284.661.500 đồng. Được giới hạn bởi các điểm 9', 9, 10, 11, 12', 17', 18, 19, 9' trên sơ đồ kèm theo bản án.

    Ghi nhận sự tự nguyện của ông H1 không yêu cầu cụ H2 thanh toán giá trị tài sản của ông H1 trên đất giao cụ H2.

    Ông H1 phải thanh toán cho cụ H2 chênh lệch tài sản được nhận là: 445.952.200 đồng.

  • Bác yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Nguyễn Văn K về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đinh Thị V và ông Nguyễn Văn K được UBND xã T xác nhận ngày 26/11/2001 có hiệu lực pháp luật.
  • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đinh Thị V và ông Nguyễn Văn K được UBND xã T xác nhận ngày 26/11/2001 vô hiệu.

Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Đinh Thị V, ông Nguyễn Văn H5 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí đã nộp tại Biên lai thu số 0017647 ngày 16/5/2024; Biên lai thu số 0017841 ngày 09/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Đinh Thị V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Bà V phải chịu 71.795.175 đồng án phí có giá ngạch. Đối trừ với số tiền 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu số 004523, ngày 08/6/2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội, bà V còn phải nộp 71.595.175 đồng.

Bị đơn ông Đinh Văn H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 2.491.390 đồng án phí có giá ngạch.

Cụ Nguyễn Thị Kim H2 được miễn án phí dân sự sơ thẩm .

Ông Nguyễn Văn K được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông K được nhận lại 200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 07555 ngày 17/10/2014 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án dân sự của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả đối với số tiền chưa thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trần Thị Liên Anh

Nơi nhận:

  • VKSND Thành phố Hà Nội;
  • TAND khu vực 10 – Hà Nội;
  • Thi hành án Dân sự Thành phố Hà Nội;
  • Các đương sự;
  • Lưu văn phòng;
  • Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 861/2025/DS-PT ngày 31/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chia thừa kế

  • Số bản án: 861/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Thị Vân - Đinh Văn Hiệu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger