Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 861/2023/DS-PT

Ngày 25-12-2023

V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản

là quyền sử dụng đất”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán:Ông Mai Xuân Thành.

Ông Lê Thành Long.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 456/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 8 năm 2023 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2456/2023/QĐPT-DS ngày 20 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1944 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, khu H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của bà Huỳnh Thị L:

  1. Ông Nguyễn Huỳnh P, sinh năm 1984 (có mặt).
  2. Địa chỉ: Số A, khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 16/7/2019).

  3. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Số E, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 02/3/2023).

Bị đơn: Anh Nguyễn Huỳnh T1, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Huỳnh T1: Bà Nguyễn Thị Kim Đ, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Số A, hẻm E, đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 17/02/2022).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Văn Ư; chức vụ: Chủ tịch (vắng mặt).

    Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H; chức vụ: Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 27/4/2023-vắng mặt).

  3. Bà Lê Thị Thúy K, sinh năm 1978 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Người kháng cáo: Bị đơn, ông Nguyễn Huỳnh T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, bà Huỳnh Thị L và người đại diện hợp pháp trình bày:

Năm 1999, bà L nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn M phần đất có chiều ngang 06m, tọa lạc tại ấp B, xã C, huyện D, với giá 14 chỉ vàng, theo giấy tay sang nhượng do ông M viết ngày 19/3/1999. Sau khi sang nhượng đất, bà L cất nhà tạm cho con trai là anh Nguyễn Huỳnh T1 và Nguyễn Huỳnh N mở tiệm sửa chữa điện tử và sửa xe máy. Anh N ở sửa điện tử được khoảng 03 tháng thì không làm nữa, căn nhà chỉ còn vợ chồng anh T1 ở và sửa xe. Năm 2001, bà L kê khai, đăng ký và được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) số 00045 QSDĐ/689/QĐ-UB/2002 ngày 25/9/2002 tại thửa số 150, tờ bản đồ số 16, diện tích 96m2 (Theo kết quả đo đạc thực tế, phần đất tranh chấp có diện tích 127,9m2, thửa mới số 233, tờ bản đồ số 40).

Do đó, bà L yêu cầu vợ chồng anh T1, chị K trả lại diện tích 127,9m² và căn nhà trên đất; Yêu cầu được nhận tiền đền bù thu hồi đất anh T1 đang giữ số tiền 46.172.480 đồng.

Bà L thống nhất theo kết quả đo đạc ngày 29/10/2019 của Công ty TNHH MTV V đối với diện tích đất tranh chấp. Về giá trị diện tích đất tranh chấp: Bà L thống nhất theo Biên bản định giá ngày 18/11/2021, trong đó diện tích 96m² được cấp giấy CNQSDĐ, giá 3.080.000 đồng/m², thành tiền 295.680.000 đồng (96m² x 3.080.000 đồng/m²); Diện tích ngoài giấy CNQSDĐ là 31,9m², giá 300.000 đồng/m², thành tiền 9.570.000 đồng (31,9m² x 300.000 đồng). Tổng giá trị quyền sử dụng đất 305.250.000 đồng. Về giá trị tài sản trên đất: Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/4/2023, tài sản gồm: 01 căn nhà tạm B, diện tích 88,4m², kết cấu nền xi măng, gạch tàu, vách tường gạch, cửa sắt kéo, khung gỗ tạp, mái tol; 01 mái che phía sau diện tích 70,4m², kết cấu nền đất, cột gỗ tạp, mái lợp tol; 01 cây dừa 21 năm tuổi đã chết, hiện tại cây vẫn còn đứng, ngoài ra không còn tài sản nào khác. Bà L thống nhất theo kết quả thẩm định do Công ty TNHH T2 thẩm định năm 2019, giá trị 01 căn nhà tạm B 13.938.470 đồng; 01 mái che sau nhà trị giá 6.529.600 đồng. Tổng giá trị tài sản trên đất 20.468.070 đồng.

Nguyên đơn không đồng ý tính công sức gìn giữ nhà đất cho anh T1 do bà L cho anh T1 ở nhờ và sử dụng phần đất tranh chấp để kinh doanh sửa chữa xe máy, được hưởng nhiều lợi ích khi sử dụng đất. Bà L không đồng ý thanh toán giá trị tài sản trên đất cho anh T1 vì tài sản này là của bà L.

Bị đơn, anh Nguyễn Huỳnh T1 và người đại diện hợp pháp trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là do anh T1 nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn M và bà Lê Thị C năm 1999 (chiều ngang 06m, chiều dài 16m), giá 14 chỉ vàng. Khi nhận chuyển nhượng, các bên không làm giấy. Việc mua bán có bà C và chị Kim A (là vợ, con ông M) xác nhận có nhận vàng của anh T1. Sau khi mua đất, anh T1 cất 01 căn nhà để ở và mở tiệm sửa xe. Năm 2002, anh T1 và bà L đi kê khai đăng ký diện tích đất chuyển nhượng và anh T1 nhờ bà L đứng tên dùm giấy CNQSDĐ, vì tại thời điểm đó, bà L không đồng ý cho chị K làm vợ anh T1, thường đánh chị K khi chị K đang mang thai nên anh T1 đồng ý cho bà L đứng tên giấy đất dùm.

Anh T1 có đến nói với ông M, bà C làm giấy tay mua bán với bà L nhưng ông M, bà C không đồng ý mà chỉ đồng ý ký giấy tay mua bán với anh T1. Việc anh T1 đồng ý cho bà L đứng tên giấy CNQSDĐ và khi nào con anh T1 đủ 18 tuổi thì bà L sẽ sang tên lại được thỏa thuận miệng. Khi đăng ký quyền sử dụng đất anh T1 chỉ nhờ bà L đứng tên 96m², không phải toàn bộ diện tích đo thực tế.

Vì vậy, anh T1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà L. Đồng thời có đơn phản tố về yêu cầu hủy giấy viết tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L và ông M; hủy giấy CNQSDĐ do UBND huyện D cấp ngày 25/9/2002 cho bà L đối với diện tích 96m², thửa số 150, tờ bản đồ số 16 và công nhận cho anh T1 được quyền sử dụng diện tích 96m².

Anh T1 thống nhất theo Sơ đồ hiện trạng sử dụng đât số 51/SĐ-HT ngày 29/10/2019, do Công ty TNHH MTV V và kết quả định giá do Công ty TNHH T2 thẩm định năm 2019, trị giá tài sản 20.468.070 đồng, không yêu cầu định giá lại. Về tài sản trên đất, thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/4/2023.

Do nhà đất là của anh T1 nên không yêu cầu tính công sức gìn giữ. Trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L thì yêu cầu bà L thanh toán giá trị tài sản trên đất cho anh T1. Đối với tiền hỗ trợ đền bù đất và tài sản trên đất, anh T1 yêu cầu được hưởng vì phần đất này nằm ngoài giấy CNQSDĐ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

Chị Lê Thị Thúy K trình bày: Năm 1998, vợ chồng chị qua ấp T, xã T, huyện C cất nhà tạm ở nhờ trên đất của người khác để anh T1 sửa xe sinh sống. Năm 1999, vợ chồng chị dành dụm được một khoản tiền nhưng không đủ để mua đất nên bà nội anh T1 cho thêm tiền để mua phần đất hiện nay đang tranh chấp với bà L. Chị thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu của anh T1. Anh N không ở và sửa điện tử trên nhà đất của vợ chồng chị như nguyên đơn trình bày.

Ủy ban nhân dân huyện D trình bày:

Việc UBND huyện D cấp giấy CNQSDĐ cho bà Huỳnh Thị L do đang sử dụng đất ổn định, được UBND xã C xác nhận thửa đất số 150, tờ bản đồ 16, diện tích 96m², mục đích sử dụng đất ở nông thôn là phù hợp với khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993, quy định: “Người sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Quá trình giải quyết vụ án:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 01 tháng 03 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L.
  2. Buộc anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K trả lại cho bà Huỳnh Thị L diện tích đất thực tế 127,90m², thuộc thửa số 233 (thửa cũ số 150), tờ bản đồ số 40 (tờ bản đồ cũ số 16), tại ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00045 QSDÐ/689/QĐ-UB/2002, ngày 25/9/2002 do UBND huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị L đứng tên và tài sản gắn liền với đất.
  3. Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Huỳnh T1 đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00045 QSDÐ/689/QĐ-UB/2002 ngày 25/9/2002 do UBND huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị L.
  4. Chấp nhận một phần yêu cầu được hưởng tiền đền bù thu hồi đất đối với diện tích 49,5m2 của bà Huỳnh Thị L. Bà L được sở hữu số tiền 18.500.000 đồng; anh T1, chị K được sở hữu số tiền 46.172.480 đồng (đã nhận xong).

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 570/2022/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 01 tháng 03 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh và giao hồ cho cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh,

Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 2 của Luật Đất đai năm 1993; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2014; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L về “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” đối với anh Nguyễn Huỳnh T1.
  2. Buộc anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K trả lại cho bà Huỳnh Thị L diện tích đất thực tế 127,90m², thửa mới số 233 (thửa cũ số 150), tờ bản đồ số 40 (tờ bản đồ cũ số 16), được Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00045 QSDĐ/689/QĐ-UB/2002, ngày 25/9/2002 do bà Huỳnh Thị L đứng tên, tại thửa số 150, tờ bản đồ 16, diện tích 96m² và tài sản trên đất, gồm: 01 căn nhà tạm B, diện tích 88,40m², có đặc điểm, nền xi măng, gạch tàu, vách tường gạch, cửa sắt kéo, khung gỗ tạp, mái lợp tol; 01 mái che phía sau diện tích 70,40m², có đặc điểm, nền đất, cột gỗ tạp, mái lợp tol. Đất tọa lạc tại ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh (có sơ đồ kèm theo).

    Anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K được tiếp tục lưu cư tại nhà, đất nói trên trong thời hạn 04 (bốn) tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  3. Không chấp nhận yêu cầu của của bà Huỳnh Thị L yêu cầu anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K trả lại cho bà số tiền đền bù thu hồi đất 46.172.480 đồng. Ghi nhận bà Huỳnh Thị L đang quản lý số tiền 18.500.000 đồng; Anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K đang quản lý số tiền 46.172.480 đồng.
  4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Huỳnh T1 về yêu cầu hủy giấy tay mua bán đất ngày 19/3/1999 giữa ông Huỳnh Văn M và bà Huỳnh Thị L; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00045 QSDÐ/689/QĐ-UB/2002, ngày 25/9/2002, tại thửa số 150, tờ bản đồ 16, diện tích 96m2, được Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị L đứng tên.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19/7/2023, bị đơn anh Nguyễn Huỳnh T1 kháng cáo yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Huỳnh Tân g nguyên yêu cầu kháng cáo và cung cấp hóa đơn bán hàng, phiếu giao hàng thể hiện ông T1 đã mua vật tư để sửa chữa nhà sau khi Nhà nước thu hồi một phần đất, tổng số tiền là hơn 100 triệu đồng và trình bày:

Các hóa đơn bán hàng, phiếu giao hàng trên, được chủ cửa hàng ghi lại theo sổ ghi chép do vợ anh T1 là bà Lê Thị Thúy K cung cấp, sổ ghi chép này đã giao cho cửa hàng nên không cung cấp được cho Tòa án. Việc sử dụng các vật tư trên để sửa nhà có những người xung quanh biết.

Việc giám định không thực hiện được là do bị đơn không thu thập được chứng cứ gốc là chữ ký của ông M. Tuy nhiên, vợ và con ông M cho rằng có bán đất cho anh T1 là đúng. Xác nhận của ông S vào giấy mua bán giữa ông M với bà L là không đúng do cơ quan có thẩm quyền không xác nhận chữ ký là của ông S. Anh T1 là người sử dụng đất, đã làm nhà và ở trên đất, còn bà L không sử dụng.

Trong quá trình giải quyết vụ án thì anh T1 có trình bày: Anh T1 đã nhờ bà L đứng tên dùm giấy CNQSDĐ do khi đó, bà L không đồng ý cho chị K làm vợ anh T1 nên đã thường xuyên đánh chị K khi chị K đang mang thai. Tuy nhiên, lời trình bày trên là không đúng mà thực tế là bà L đã lén lút đăng ký kê khai và được cấp giấy CNQSDĐ. Bà L là mẹ anh T1. Anh T1, anh N là anh em ruột và không có mâu thuẫn với nhau. Tuy nhiên, do anh N là con cả nên phải bảo vệ bà L là bình thường.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh T1, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Nguyên đơn trình bày:

Bà L là mẹ anh T1 và anh N. Bà L có mua đất của ông M, được ông S xác nhận. Sau đó có làm nhà và cho anh T1, anh N sử dụng làm cơ sở kinh doanh. Anh T1 cho rằng là người mua đất nhưng không có căn cứ chứng minh. Việc anh T1 cho rằng đã nhờ bà L đứng tên dùm, sau đó lại trình bày bà L lén lút đăng ký đất là không có căn cứ.

Thực tế, Nhà nước có thu hồi một phần đất của bà L nhưng bà L không biết anh T1 sửa căn nhà thế nào, chỉ biết hiện nay anh T1 và gia đình đang sử dụng. Theo kết quả thẩm định giá thì tài sản trên đất là 20.468.070 đồng. Việc giải quyết phần anh T1 đã sửa nhà do Tòa án quyết định, bà L đồng ý.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của anh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 19/3/1999, ông Huỳnh Văn M và bà Huỳnh Thị L lập “Giấy bán đất”, có nội dung ông M chuyển nhượng cho bà L phần đất rộng 06m, với giá 14 chỉ vàng, được ông Trần Văn S1 nguyên Trưởng ấp B, xã C xác nhận. Anh T1 là người yêu cầu giám định nhưng không cung cấp được chữ ký của ông M để giám định nên việc giám định không thực hiện được. Việc anh T1 cho rằng là người mua cũng không có căn cứ chứng minh.

Anh T1 đang sử dụng đất nhưng nhà trên đất là do bà L làm, trước đó bà L đã được cấp giấy CNQSDĐ hợp pháp. Việc anh T1 cho rằng bà L lén lút đăng ký nhưng không có căn cứ chứng minh, mâu thuẫn với nội dung trình bày trước đây là nhờ bà L đứng tên dùm.

Anh T1 kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

  1. Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thụ lý vụ án và giải quyết là đúng quy định pháp luật. Anh Nguyễn Huỳnh T1 kháng cáo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Khi giải quyết lại vụ án, anh T1 có đơn phản tố về yêu cầu hủy giấy viết tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L và ông M; hủy giấy CNQSDĐ do UBND huyện D cấp ngày 25/9/2002 cho bà L đối với diện tích 96m², thửa số 150, tờ bản đồ số 16 và công nhận cho anh T1 được quyền sử dụng diện tích 96m². Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý và giải quyết các yêu cầu trên của anh T1 là đúng pháp luật.
  3. Giai đoạn sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị đơn yêu cầu giám định chữ ký của ông Huỳnh Văn M tại “Giấy bán đất” ngày 19/3/1999 nhưng không cung cấp được mẫu so sánh. Tòa án đã thu thập chữ viết, chữ ký của ông M tại Phòng cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội, Công an tỉnh T theo yêu cầu của đương sự nhưng không có kết quả; Đồng thời, đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các chứng cứ khác để giải quyết vụ án là đúng.
  4. Các đương sự thống nhất theo kết quả đo đạc ngày 29/10/2019 của Công ty TNHH MTV V; Chứng thư Thẩm định giá ngày 08/11/2019 của Công ty TNHH T2 và Biên bản định giá quyền sử dụng đất ngày 18/11/2021 mà không yêu cầu đo đạc, định giá lại nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ ý kiến của các đương sự để giải quyết vụ án là đúng.

Về nội dung:

  1. Quá trình tố tụng, nguyên đơn cho rằng đã mua đất của ông M, sau khi được cấp giấy CNQSDĐ thì làm nhà và cho anh N, anh T1 sử dụng để mở tiệm kinh doanh, còn bị đơn cho rằng đất do anh T1 mua của ông M, đã làm nhà và ở trên đất.
  2. Xét trình bày của các đương sự thấy rằng:
    1. Hồ sơ vụ án thể hiện: Tại “Giấy bán đất” ngày 19/3/1999 do ông Huỳnh Văn M ký, có nội dung: Chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị L phần đất chiều rộng 06m, với giá 14 chỉ vàng. Giấy bán đất này, được ông Trần Văn S1 nguyên là Trưởng ấp B, xã C (giai đoạn năm 1999 – 2001) xác nhận với nội dung: Ngày 08/5/2001, ông Huỳnh Văn M và bà Huỳnh Thị L đến nhà nhờ ông ký xác nhận vào giấy bán đất ghi ngày 19/3/1999 âm lịch giữa bên bán là ông M, bên mua là bà L; ông ký xác nhận nội dung ông M có bán đất cho bà L, để bà L làm thủ tục cấp giấy, khi đó sức khỏe ông M bình thường (bút lục 179).
    2. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/01/2022 (bút lục 241), anh Nguyễn Huỳnh N trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp ngang 06 m, dài 30m do mẹ anh là bà L mua của ông M năm 1999, nguồn tiền mua đất, do mẹ anh bán nhà đất ở phường D chia đều cho các con, phần của mẹ anh dùng mua phần đất này. Sau khi bà L cất nhà tạm bằng tole thì cho anh và anh T1 mở tiệm làm nghề, anh sửa chữa điện tử; anh T1 sửa xe gắn máy, nên để biển hiệu “Nhựt T1”.
    3. Như vậy, nội dung “Giấy bán đất” ngày 19/3/1999 được ông Trần Văn S1 xác nhận phù hợp với nội dung trình bày của anh N. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị đơn xác nhận anh N và anh T1 không có mâu thuẫn.
    4. Tại văn bản số 647/UBND ngày 27/4/2023 của UBND huyện D, có nội dung: Việc cấp giấy CNQSDĐ cho bà Huỳnh Thị L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993.
  3. Khi giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai của người làm chứng bà Lê Thị C và bà Huỳnh Thị Kim A1 (là vợ, con ông M). Tuy nhiên, lời khai của bà C, bà A1 có mâu thuẫn nên Tòa án không xác định là chứng cứ để giải quyết vụ án là có căn cứ.
  4. Quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm lần 1 và lần 2 thì anh T1 cho rằng: Đã nhờ bà L đứng tên dùm giấy CNQSDĐ, vì tại thời điểm đó, bà L không đồng ý cho chị K làm vợ anh T1, thường đánh chị K khi chị K đang mang thai. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm thì đại diện hợp pháp của anh T1 xác định: Không có việc nhờ bà L đứng tên dùm giấy CNQSDĐ như lời trình bày của anh T1 trước đó mà do bà L đã lén lút đăng ký để được cấp giấy CNQSDĐ. Thấy rằng: Nội dung trình bày của anh T1 là không thống nhất và có mâu thuẫn. Đồng thời, việc anh T1 cho rằng để cho bà L đứng tên dùm giấy CNQSDĐ diện tích 96m² nhưng không có căn cứ chứng minh, không được bà L thừa nhận, cũng không phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  5. Những căn cứ nêu trên có cơ sở xác định bà L đã nhận chuyển nhượng đất của ông M.
  6. Tại phiên tòa, mặc dù đại diện hợp pháp của bị đơn cung cấp một số hóa đơn bán hàng, phiếu giao hàng có nội dung mua một số vật tư nhưng không có căn cứ chứng minh các vật tư này được sử dụng để sửa chữa căn nhà; Đồng thời các hóa đơn bán hàng, phiếu giao hàng không được phát hành đúng quy định của Nhà nước, hơn nữa đại diện bị đơn trình bày các hóa đơn bán hàng, phiếu giao hàng trên được người bán ghi lại theo yêu cầu của chị K (vợ anh T1) nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xác định tính hợp pháp của các tài liệu do đương sự cung cấp tại phiên tòa, cũng như mục đích sử dụng các vật tư trên.
  7. Tuy nhiên, tại phiên tòa, các đương sự xác nhận Nhà nước có thu hồi một phần đất đã ảnh hưởng đến căn nhà đang do anh T1 và chị K sử dụng. Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/4/2023 thì tài sản trên đất có nhà tạm và 01 cây dừa (21 năm tuổi) đã chết. Kết quả định giá do Công ty TNHH T2 thẩm định năm 2019 xác định giá trị tài sản trên đất là 20.468.070 đồng. Như vậy, có căn cứ xác định anh T1 đã sửa một phần căn nhà nên cần buộc bà L trả lại giá trị tài sản trên đất là 20.468.070 đồng, bà L được sở hữu tài sản trên đất.
  8. Anh T1 ở trên đất là do bà L đồng ý, khi Nhà nước thu hồi có bồi thường về đất, Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận anh T1, chị K được nhận 46.172.480 đồng là có căn cứ và số tiền này xem như công sức giữ gìn tài sản của bị đơn.
  9. Từ những chứng cứ trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, chấp nhận một phần kháng cáo của anh T1, sửa một phần bản án sơ thẩm. Anh T1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
  10. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; Điều 203 Luật Đất đai năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Huỳnh T1.
  2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L về “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” đối với anh Nguyễn Huỳnh T1.
  4. Buộc anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K trả lại cho bà Huỳnh Thị L:
    1. Diện tích 127,90m², thửa mới số 233 (thửa cũ số 150), tờ bản đồ số 40 (tờ bản đồ cũ số 16), được Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00045 QSDÐ/689/QĐ-UB/2002, ngày 25/9/2002 cho bà Huỳnh Thị L.
    2. Tài sản trên đất, gồm: 01 căn nhà tạm B, diện tích 88,40m², có đặc điểm, nền xi măng, gạch tàu, vách tường gạch, cửa sắt kéo, khung gỗ tạp, mái lợp tol; 01 mái che phía sau diện tích 70,40m², có đặc điểm, nền đất, cột gỗ tạp, mái lợp tol. Đất tọa lạc tại ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

    Diện tích đất có sơ đồ kèm theo.

  5. Anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K được tiếp tục lưu cư tại nhà, đất nói trên trong thời hạn 04 (bốn) tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  6. Không chấp nhận yêu cầu của của bà Huỳnh Thị L yêu cầu anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K trả lại 46.172.480 đồng (bốn mươi sáu triệu, một trăm bảy mươi hai nghìn, bốn trăm tám mươi) đồng là tiền đền bù khi Nhà nước thu hồi đất. Bà Huỳnh Thị L được sở hữu số tiền đang quản lý là 18.500.000 đồng (mười tám triệu, năm trăm nghìn) đồng. Anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K được sở hữu số tiền đang quản lý là 46.172.480 đồng (bốn mươi sáu triệu, một trăm bảy mươi hai nghìn, bốn trăm tám mươi) đồng.
  7. Buộc bà Huỳnh Thị L trả cho anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K giá trị tài sản trên đất, số tiền 20.468.070 (hai mươi triệu, bốn trăm sáu mươi tám nghìn, không trăm lẻ bảy) đồng. Bà Huỳnh Thị L được sở hữu tài sản trên đất.
  8. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Huỳnh T1 về yêu cầu:
    1. Hủy giấy tay mua bán đất ngày 19/3/1999 giữa ông Huỳnh Văn M và bà Huỳnh Thị L;
    2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00045 QSDĐ/689/QĐ-UB/2002 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Huỳnh Thị L đứng tên ngày 25/9/2002, tại thửa số 150, tờ bản đồ 16, diện tích 96m².
  9. Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K có trách nhiệm thanh toán cho bà Huỳnh Thị L số tiền 25.300.000 đồng (hai mươi lăm triệu, ba trăm nghìn) đồng.
  10. Án phí:
    1. Án phí sơ thẩm:
    2. Bà Huỳnh Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

      Anh Nguyễn Huỳnh T1 và chị Lê Thị Thúy K, mỗi đương sự phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do anh T1 nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003723 ngày 24/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh và 300.000 đồng theo biên lai số 0000153 ngày 21/3/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, anh T1, chị K đã nộp đủ.

    3. Án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Huỳnh T1 không phải chịu và được trả lại 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0016736 ngày 19/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
  11. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  12. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  13. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  14. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Tòa án nhân dân tối cao;

- VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;

- TAND tỉnh Tây Ninh;

- VKSND tỉnh Tây Ninh;

- Cục THADS tỉnh Tây Ninh;

- Các đương sự;

- Lưu (5), (án LTTH).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Xuân Thành

Lê Thành Long

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 861/2023/DS-PT ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 861/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger