Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 860/2024/DS-ST

Ngày 30-09-2024

V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoài

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Văn Rồi
  2. Ông Võ Văn Dương

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Tiền – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 472/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 527/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 620/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đào Thị P, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số E, ấp N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Bị đơn: Bà Phạm Hồ Ngọc T, sinh năm 1976; Địa chỉ: số A N, khu phố A, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1954; địa chỉ: số E, ấp N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 06 năm 2024 và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 25 tháng 12 năm 2018, nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng dịch vụ hồ sơ nhà đất số 022512-2018/HĐ (viết tắt: Hợp đồng dịch vụ) với nội dung yêu cầu bị đơn thực hiện thủ tục xin gia hạn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với thửa đất số 673-1, tờ bản đồ số 20, tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số

vào sổ 488 QSDĐ/CQ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Vũ Văn T1 ngày 29 tháng 07 năm 2003.

Ngày 29 tháng 12 năm 2018 và ngày 01 tháng 06 năm 2019, nguyên đơn lần lượt giao cho bị đơn số tiền dịch vụ là 75.000.000 đồng và 20.000.000 đồng, tổng cộng là 95.000.000 đồng. Đến nay đã quá 05 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng, bị đơn vẫn không thực hiện các công việc mà hai bên đã thỏa thuận. Do bị đơn vi phạm hợp đồng, nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền trên nhưng bị đơn cố tình né tránh và cắt đứt liên lạc với nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền 95.000.000 đồng; đồng thời tuyên chấm dứt hợp đồng dịch vụ hồ sơ nhà đất số 022512-2018/HĐ ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn ngày 25 tháng 12 năm 2018.

Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận của nguyên đơn là 95.000.000 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn không yêu cầu chồng của bị đơn cùng chịu trách nhiệm trả nợ với bị đơn. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:

  1. Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:

    Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

    Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

    Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp hợp đồng dịch vụ thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về yêu cầu của các đương sự:

[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy Hợp đồng dịch vụ số 022512-2018/HĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018:

Căn cứ sự xác nhận của bị đơn tại trang 4 của Hợp đồng dịch vụ, cùng với bản tự khai của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn T1 đã giao cho bị đơn đợt 1 vào ngày 29 tháng 12 năm 2018 là 75.000.000 đồng (50% giá trị hợp đồng), đợt 2 vào ngày 01 tháng 06 năm 2019 là 20.000.000 đồng, tổng cộng là 95.000.000 đồng để thực hiện hợp đồng dịch vụ số 022512-2018/HĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018;

Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn tự nguyện giao kết Hợp đồng dịch vụ, nội dung và hình thức của hợp đồng không trái với quy định của pháp luật nên Hợp đồng dịch vụ có hiệu lực pháp luật; ngày 29 tháng 12 năm 2018, bị đơn đã giao cho nguyên đơn 75.000.000 đồng theo quy định tại mục 5.2 Điều V của hợp đồng, nên Hợp đồng dịch vụ trên có hiệu lực pháp luật vào ngày 29 tháng 12 năm 2018. Các bên thỏa thuận thời hạn bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ giao sản phẩm cho nguyên đơn là 90 ngày làm việc (tương đương 04 tháng); tuy nhiên đến thời điểm xét xử vụ án là đã hơn 05 năm bị đơn vân chưa thực hiện nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận tại hợp đồng dịch vụ; như vậy, bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 423 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hủy Hợp đồng dịch vụ số 022512-2018/HĐ ký kết giữa nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn T1 và bị đơn ngày 25 tháng 12 năm 2018.

[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc buộc bị đơn trả lại toàn bộ số tiền 95.000.000 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật:

Do yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy Hợp đồng dịch vụ số 022512-2018/HĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 được chấp nhận nên căn cứ quy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự về hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng: “Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản”, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là hợp pháp nên chấp nhận, buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn T1 số tiền 95.000.000 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị đơn đã được triệu tập nhiều lần nhưng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên phải tự gánh chịu hậu quả của việc không tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác nhận chỉ giao dịch với bị đơn nên chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn chịu trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn, không yêu cầu chồng bị đơn cùng trả nợ với bị đơn, xét thấy, đây là ý chí và sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Đối với phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu hủy hợp đồng dịch vụ số 022512-2018/HĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 là 300.000 đồng và án phí đối với số tiền phải hoàn trả cho nguyên đơn là 4.750.000 đồng, tổng cộng là 5.050.000 đồng.

Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 385, 423, 427, 513, và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Hủy Hợp đồng dịch vụ số 022512-2018/HĐ ký kết giữa bà Đào Thị P, ông Vũ Văn T1 và bà Phạm Hồ Ngọc T ngày 25 tháng 12 năm 2018.

    Buộc bà Phạm Hồ Ngọc T phải hoàn trả cho cho bà Đào Thị P và ông Vũ Văn T1 số tiền 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng) phát sinh từ hợp đồng dịch

vụ số 022512-2018/HĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Phạm Hồ Ngọc T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về án phí: Bà Phạm Hồ Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.050.000 đồng (Năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

    Bà Đào Thị P được miễn nộp tiền án phí theo quy dịnh tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THA DS huyện Củ Chi;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Kim Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 860/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 860/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger