Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 860/2024/HS-PT

Ngày 19 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Trí Tuấn

Ông Phan Nhựt Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 596/2016/HSPT ngày 04-10-2016 do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bản án hình sự sơ thẩm số 297/2016/HSST ngày 23-8-2016 của Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:

Cao Trí T, sinh năm 1967 tại Bình Định, giới tính: nam; nơi thường trú: 213/33 Đường B, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hoá: 8/12; nghề nghiệp: buôn bán; con ông Cao Minh T1 và bà Ngô Thị L; có vợ Trương Thị Hồng H và 02 con sinh năm 1994 và 2000; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Tại bản án số 363/1990/HSPT ngày 19/6/1990, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số 1145/1994/HSST ngày 13/10/1994, bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, nhưng cho hưởng án treo.

Bị bắt tạm giam trong vụ án này ngày 18/6/2013, (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Luật sư Phạm Thị Thanh T2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
  1. Luật sư Phan Văn H1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Lúc 21 giờ 00 phút ngày 14/6/2013, tại trước nhà số F X, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ công tác Cục cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Bộ C3, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Thành phố H và Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang Lê Nguyễn Hoàng A (tự H2) đang có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ của Hoàng A gồm: 15 bánh chất bột màu trắng có trọng lượng 5.097,06 gram là chế phẩm Heroine (kết quả giám định số 1047/KLGĐ-H ngày 09/8/2013 của Phòng K3 - Công an Thành phố H) và một số vật chứng khác.

Mở rộng điều tra, lúc 18 giờ 30 phút ngày 18/6/2013, Cơ quan cảnh sát điều tra - Bộ C3 bắt khẩn cấp Cao Trí T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ: 12 viên nén màu đỏ, trên mặt có in hình logo "WY”, trọng lượng 1,1125 gram có chứa thành phần Methamphetamine; 01 gói nylon chứa một số chất rắn tinh thể trong suốt, có trọng lượng 0,7722 gram chứa thành phần Methamphetamine. Kết quả giám định số 1364/C54B ngày 08/07/2013 của V1 - Bộ C3 tại Thành phố Hồ Chí Minh) và một số vật chứng khác.

Khám xét chiếc xe ô tô hiệu BMW X6 màu đỏ, biển số: 51A- 584.85 của Cao Trí T, tiếp tục thu giữ: 05 viên nén màu đỏ, trên mặt có in hình logo “WY” có trọng lượng 0,4560 gram chứa thành phần Methamphetamine; 01 gói nylon chứa một số chất rắn tinh thể trong suốt, có trọng lượng 0,2175 gram chứa thành phần Methamphetamine. Kết quả giám định số 1436/C54B ngày 17/07/2013 của V1 - Bộ C3 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào lời khai và vật chứng thu giữ của Lê Nguyễn Hoàng ACao Trí T, vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 18/6/2013, Cơ quan cảnh sát điều tra - Bộ C3 bắt khẩn cấp Trần Tuấn A1Nguyễn Thành C về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm với Cao Trí T.

Lúc 01 giờ 00 phút ngày 15/6/2013, tại nhà số D H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Q phối hợp với Công an P3, Quận H bắt quả tang Trương Thị Ngọc Á (tự M) và Nguyễn Thanh T3 (là con dâu của Á) có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ của Trương Thị Ngọc Á gồm 01 gói chất bột màu trắng, trọng lượng 0,9005 gram là chế phẩm Heroine (Kết quả giám định số 1052/KLGĐ-H ngày 17/6/2013 của Phòng K3 - Công an Thành phố H) và của Nguyễn Thanh T3 01 điện thoại di động Nokia.

Từ lúc 18 giờ 45 phút đến 21 giờ 30 phút ngày 18/6/2013, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Q lần lượt tiến hành bắt khẩn cấp các đối tượng Võ Thị P; Phạm Thị Ngọc T4; Trương Thị M về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, thu giữ 01 bịch khoảng 100 túi nylon nhỏ màu trắng chưa sử dụng; Lê Thị Thùy D thu giữ 01 cái bóp da có chứa 21 gói chất bột màu trắng, trọng lượng 26,0092 gram là chế phẩm Heroine (Kết quả giám định số 1050/KLGĐ-H ngày 19/7/2013

2

của Phòng K3 - Công an Thành phố H) và A Khắc T5 (tự C1) thu giữ 04 gói chất bột màu trắng trọng lượng 3,5915 gram là chế phẩm Heroine (Kết quả giám định số 1051/KLGĐ-H ngày 19/7/2013 của Phòng K3 - Công an Thành phố H).

Vụ án được tiếp tục mở rộng điều tra, vào lúc 17 giờ 20 phút ngày 03/4/2014 tại nhà số B L, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận G bắt quả tang Nguyễn Thị Thảo H3 đang có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, thu giữ gồm: 17 gói chất bột màu trắng, trọng lượng 1.385,3712 gram là chế phẩm Heroine (Kết quả giám định số 797/KLGĐ-H ngày 05/5/2014 của Phòng K3 - Công an Thành phố H) và một số vật chứng khác.

Đến ngày 11/10/2014 và 14/10/2014 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H tiếp tục bắt tạm giam đối với Trần Thị Thùy L1Tăng Thành L2 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Trên cơ sở lời khai nhận của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định Cao Trí T, Trần Tuấn A1, Nguyễn Thành C, Lê Nguyễn Hoàng A, Trương Thị Ngọc Á, Nguyễn Thanh T3, Trần Thị Thùy L1, Tăng Thành L2, Nguyễn Thị Thảo H3, Võ Thị P, Phạm Thị Ngọc T4, A Khắc T5, Trương Thị MLê Thị Thùy D đã thực hiện các hành vi phạm tội sau:

  1. Hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Cao Trí T, Trần Tuấn A1Nguyễn Thành C.

Cao Trí T khai nhận: Đầu tháng 3/2013, Cao Trí T gặp lại một người bạn cũ tên K (không rõ lai lịch, địa chỉ). Tại đây, K nói với TK có biết nguồn cung cấp heroin từ các tỉnh phía Bắc vào Thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ, nếu T tìm được người mua thì hợp tác với K để cùng nhau mua bán kiếm lời, T đồng ý. Sau đó, T gặp Trần Tuấn A1 (là đàn em của T) và bàn với A1A1 đứng ra trực tiếp giao dịch mua bán heroin với khách theo chỉ đạo của T để cùng nhau bán lại kiếm lời, A1 đồng ý. T bàn với KA1TK cùng góp vốn để mua heroin của đầu trên do K giới thiệu, A1 đứng ra nhận heroin từ người bán rồi giao lại cho K cất giữ, K chế biến lại cứ 10 bánh heroin thành 12,5 bánh đến 13 bánh heroin rồi giao cho A1 bán lại cho khách và A1 nhận tiền về giao cho T, sau khi đã thống nhất. Bắt đầu từ tháng 3/2013 đến khi bị bắt là tháng 6/2013, Cao Trí T đã thiết lập đường dây mua bán trái phép chất ma tuý (heroin) từ các tỉnh phía Bắc vào Thành phố Hồ Chí Minh để tiêu thụ. Trong đó, Cao Trí T là người cầm đầu tổ chức, tham gia cùng với T còn có đối tượng khác như K (là người pha trộn và cất giữ heroin cho T), Trần Tuấn A1 (là người nhận heroin từ các tỉnh phía Bắc để giao lại cho K pha trộn, cất giữ và sau đó nhận heroin từ K để giao cho khách mua, đồng thời thu tiền bán ma túy giao lại cho T). Trong thời gian thực hiện, nguồn heroin TK mua của Hoàng Văn P1 (ở Nghệ An, đang bị công an tỉnh N bắt trong vụ án khác), người trực tiếp mang heroin vào Thành phố Hồ Chí Minh giao là Nguyễn Thế T6 (ở Nghệ An, không rõ lai lịch) tổng cộng 05 lần số lượng 117 bánh, với giá 183 triệu đồng/1 bánh và mua của Nguyễn Thị L3 (ở khu vực quận E) được 01 lần 50 bánh, với giá 9.000 USD/1 bánh. Toàn bộ số heroin nói trên do A1 trực tiếp nhận, giao lại cho K cất giữ để chế biến được khoảng 213 bánh và K giao cho A1 bán

3

cho khách. Trong đó, A1 giao cho Nguyễn Thành C để C bán lại cho Lê Nguyễn Hoàng A tổng cộng 81 bánh, với giá 185 triệu đồng/1 bánh.

Ngoài ra, TA1 bán cho 02 vợ chồng Trần Thị Thùy L1Tăng Thành L2 57 bánh, với giá 175.000.000 đồng/1 bánh, bán cho đối tượng tên Tí Cô N ở khu vực quận G (không rõ lai lịch, địa chỉ) khoảng 05 bánh, với giá 180.000.000 đồng/1 bánh. Tổng cộng TA1 đã bán cho các đối tượng trên hết 158 bánh, còn lại khoảng 55 bánh Kiều cất giữ để tiếp tục bán.

Trong đó, ngày 14/6/2013 tại quán cà phê góc đường P và N, quận G, do có xích mích về tiền mua bán ma túy giữa T, A1C, nên Cao Trí T chỉ đạo A1 trực tiếp bán 15 bánh heroin cho Lê Nguyễn Hoàng A. Sau khi, nhận 15 bánh heroin, có trọng lượng 5.097,06 gram từ Trần Tuấn A1, Hoàng A trên đường đi về đến trước số F X, Phường A, quận T thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Thành phố H bắt quả tang. Sau đó, Cao Trí T, Trần Tuấn A1Nguyễn Thành C bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Bộ C3 bắt giữ. Khám xét chỗ ở của T tại số B đường B, phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và khám xét chiếc xe ô tô hiệu BMW X6 màu đỏ, biển số: 51A- 584.85 Trung gửi tại bãi giữ xe A1 số E N, phường A, quận G, Cơ quan cảnh sát điều tra - Bộ C3 thu giữ 17 viên thuốc lắc và 2 gói ma tuý dạng đá có trọng lượng 2,5582 gram Methamphetamine, T khai trước đó được Nguyễn Thế T6 đưa cho để T bán thử cho khách với giá 150.000 đồng/1 viên và 1.000.000 đồng/1 gram ma túy (dạng đá) nhưng T chưa bán được thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Bộ C3 thu giữ.

Trần Tuấn A1 khai nhận: Quen biết với Cao Trí T từ trước, nên từ tháng 3/2013 đến khi bị bắt tháng 6/2013, T đã chỉ đạo cho A1 trực tiếp đứng ra nhận heroin từ Nguyễn Thế T6 (tự T7) tổng cộng 05 lần, số lượng 117 bánh heroin, cụ thể:

  1. Lần 1: Vào khoảng giữa tháng 3/2013 A1 đã nhận của T6 18 bánh hêrôin;
  2. Lần 2: Cách sau lần 1 khoảng 1- 2 ngày A1 nhận tiếp 15 bánh;
  3. Lần 3: Vào khoảng cuối tháng 3, đầu tháng 4/2013 A1 nhận tiếp 22 bánh;
  4. Lần 4: Vào khoảng cuối tháng 4/2013 A1 nhận 44 bánh nhưng sau đó đã trả lại 02 bánh còn lại 42 bánh.
  5. Lần 5: Vào khoảng giữa tháng 5/2013 A1 nhận tiếp 20 bánh;

Đồng thời, A1 còn nhận của Nguyễn Thị L3 01 lần 50 bánh heroin vào khoảng cuối tháng 5, đầu tháng 6/2013. Toàn bộ số heroin nói trên nhận xong A1 đều giao lại cho K cất giữ và chế biến lại để bán cho khách. Sau đó mỗi khi có khách cần mua bao nhiêu bánh thì A1 gặp K để lấy heroin đem bán cho khách rồi gom tiền giao lại cho T. Trong đó A1 đã trực tiếp giao cho Nguyễn Thành C bán cho Lê Nguyễn Hoàng A khoảng 81 bánh, với giá 185.000.000 đồng/1 bánh; A1 đã bán cho 02 vợ chồng Trần Thị Thùy L1Tăng Thành L2 57 bánh, với giá 175.000.000 đồng/1 bánh, bán cho tên Tí Cô N ở khu vực quận G (không rõ lai lịch, địa chỉ) khoảng 05 bánh, với giá 180.000.000 đồng/1 bánh. A1 được T trả công cho nhiều lần, mỗi lần từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng để sử dụng nhưng không cố định. Lần cuối vào ngày 14/6/2013, tại quán cà phê góc đường P và N, quận G, T đã chỉ đạo cho A1 bán trực tiếp cho Lê Nguyễn Hoàng A 15 bánh

4

heroin, A1 đã gặp K lấy 15 bánh heroin đem giao cho Hoàng A. Khi Hoàng A trên đường đi về đến trước số F X, phường A, quận T thì bị bắt quả tang.

Nguyễn Thành Công khai nhận: Quen biết với T, A1Hoàng A từ trước nên vào khoảng đầu tháng 3/2013 khi Hoàng A nhờ C tìm nguồn cung cấp heroin để mua đem về quận H tiêu thụ kiếm lời. Sau đó, C đã gặp TA1 và nói có người đang cần mua heroin nếu TA1 có heroin để bán thì giao cho C để C giao cho khách, T đồng ý và nói với C là khi nào cần thì C gặp trực tiếp A1 để lấy heroin và phải thu tiền liền về giao cho A1, C đồng ý. Sau khi tìm được nguồn heroin Công báo cho Hoàng A biết và nói khi nào cần thì Hoàng A báo trước cho C để C sẽ lấy ma túy về giao cho Hoàng A, Hoàng A đồng ý. Từ tháng 3/2013 đến khi bị bắt là tháng 6/2013, C đã nhận heroin từ A1 rồi đem giao cho Hoàng A nhiều lần, mỗi lần từ 1 đến 10 bánh, tổng cộng khoảng 81 bánh, với giá 185.000.000 đồng/1 bánh, mỗi lần giao xong C được T trả công cho từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/lần.

Như vậy, từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013, Cao Trí T, Trần Tuấn A1 đã thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng cộng 158 bánh heroin, T hưởng lợi được khoảng 4,3 tỷ đồng. Trong đó, TA1 giao 81 bánh heroin cho Nguyễn Thành C để C bán cho Lê Nguyễn Hoàng A. Ngoài ra, khi bắt giữ Cao Trí T còn thu giữ được số ma túy tổng hợp có trọng lượng 2,5582gram Methamphetamine, số ma túy này T đang chào hàng bán thử cho các đối tượng nghiện.

Trong vụ án này, căn cứ vào kết quả giám định số ma túy bắt quả tang thu giữ được của Lê Nguyễn Hoàng A thì 1 bánh heroin có trọng lượng 343,33gram chế phẩm heroin. Do đó, tổng trọng lượng ma túy (heroin) mà Cao Trí TTrần Tuấn A1 đã thực hiện hành vi mua bán là 158 bánh x 343,33gr = 54.246,14gram heroin. Nguyễn Thành C đã thực hiện hành vi mua bán 81 bánh x 343,33gr = 27.809,73gram heroin.

  1. Hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Lê Nguyễn Hoàng A, Trương Thị Ngọc Á, Nguyễn Thanh T3, Võ Thị P, Phạm Thị Ngọc T4, A Khắc T5, Trương Thị MLê Thị Thùy D.

Lê Nguyễn Hoàng A khai nhận: Quen biết với Nguyễn Thành C vào dịp tết năm 2013, đến khoảng đầu tháng 3/2013 C nhờ Hoàng A tìm giúp việc làm để kiếm tiền thì Hoàng A nói với CHoàng A có biết nơi tiêu thụ heroin tại quận H, nếu C tìm được nguồn cung cấp thì lấy giao lại cho Hoàng A bán kiếm lời, C đồng ý. Sau đó, C liên hệ với Cao Trí T ở G để cung cấp heroin và báo cho Hoàng A biết, nếu Hoàng A muốn mua thì gặp T để bàn thống nhất giá cả và cách thức mua bán, Hoàng A đồng ý. Sau đó, thông qua C, Hoàng A đã gặp T bàn bạc thống nhất và T đã đồng ý bán cho Hoàng A với giá 185.000.000 đồng/1 bánh nhưng với điều kiện là Hoàng A phải giao dịch, thanh toán tiền trực tiếp với C, lần đầu Hoàng A phải trả tiền liền, còn các lần sau được mua gối đầu nhưng cũng phải trả trước một phần tiền, Hoàng A đồng ý. Khi đã tìm được nguồn cung cấp ma túy, Hoàng A về quận H gặp Trương Thị Ngọc Á chào bán với giá 190.000.000 đồng/1 bánh heroin, Ngọc Á đồng ý mua. Bắt đầu, từ tháng 3/2013 cho đến khi bị bắt tháng 6/2013, Hoàng A đã mua heroin của T do C trực tiếp giao nhiều lần, mỗi lần từ 1

5

đến 10 bánh, tổng cộng 81 bánh. Toàn bộ số heroin mua được, Hoàng A đều bán hết cho Trương Thị Ngọc Á nhưng người trực tiếp nhận là Nguyễn Thanh T3 (con dâu Ngọc Á), cứ khoảng từ 1 đến 2 ngày N mua của Hoàng A 1 lần, mỗi lần mua từ 1 đến 2 bánh. Sau khi bán xong, Ngọc Á gom tiền đưa cho T3 đem giao cho Hoàng A để Hoàng A giao cho C, C giao cho A1A1 giao cho T. Lần cuối, vào ngày 14/6/2013 Hoàng A gặp T tại quán cà phê góc đường P và N, quận G để làm rõ chuyện thanh toán tiền mua ma túy giữ Hoàng A, CT, do giữa CT có xích mích về việc thanh toán tiền mua bán ma túy, nên T chỉ đạo cho A1 trực tiếp bán ma túy cho Hoàng A và sau đó T bán cho 15 bánh heroin do A1 trực tiếp giao. Khi Hoàng A trên đường đi về đến trước số F X, phường A, quận T thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Thành phố H phát hiện bắt quả tang bắt quả tang như trên.

Như vậy trong thời gian từ tháng 3/2013 đến ngày 14/6/2013, Hoàng A đã mua ma túy (heroin) từ Nguyễn Thành C là 81 bánh và từ A1 là 15 bánh (bị bắt quả tang), tổng cộng 96 bánh heroin.

Trong vụ án này, căn cứ vào kết quả giám định số ma túy bắt quả tang thu giữ được của Lê Nguyễn Hoàng A thì 1 bánh heroin có trọng lượng 343,33gram chế phẩm heroin. Do đó, tổng trọng lượng ma túy (heroin) mà Lê Nguyễn Hoàng A đã thực hiện hành vi mua bán là 96 bánh x 343,33gr = 32.959,68 gram heroin.

Nguyễn Thanh T3 khai nhận: Là con dâu của Trương Thị Ngọc Á và tham gia mua bán heroin cùng với Trương Thị Ngọc Á từ khoảng tháng 3/2013 đến khi bị bắt là tháng 6/2013. Cứ khoảng từ 1 đến 2 ngày Ngọc Á bảo T3 sang nhà Hoàng A ở số A đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp Hoàng A hoặc gặp chị gái của Hoàng ALê Nguyễn Mộng T8 nhận heroin 1 lần, mỗi lần nhận từ 1 đến 2 bánh rồi đem về nhà giao cho Ngọc Á để Ngọc Á phân lẻ ra thành từng nhiều cục nhỏ gồm loại 2,5 chỉ, 5 chỉ và 1 lượng bán lại cho khách với giá 5.750.000 đồng/2,5 chỉ, 11.500.000 đồng/5 chỉ và 23.000.000 đồng/1 lượng kiếm lời. Sau khi bán xong, Ngọc Á gom tiền đưa cho T3 mang sang nhà Hoàng A giao cho Hoàng A hoặc Mộng Thùy hoặc có khi giao cho cháu của Hoàng ALê Nguyễn Anh K1 (sinh năm 1999). Từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013, T3 đã nhận heroin của Hoàng A nhiều lần, tổng cộng 81 bánh. Ngoài ra, Ngọc Á còn giao cho T3 đem heroin đi bán cho khách nhiều lần rồi lấy tiền về giao cho Ngọc Á. Trong đó, T3 đã bán cho 1 người tên Bảy V (không rõ lai lịch) tại hẻm B B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh được 3 lần, mỗi lần 1 lượng, tổng cộng 3 lượng heroin với giá 23.000.000 đồng/1 lượng và 1 người tên Y (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại đầu hẻm gần nhà 2 lần, mỗi lần 2,5 chỉ, tổng cộng 5 chỉ heroin với giá 5.750.000 đồng/2,5 chỉ. T3 được Ngọc Á nuôi cơm hàng ngày và cho 500.000 đồng/1 tuần để mua sữa cho con.

Như vậy trong thời gian từ tháng 3/2013 đến ngày 15/6/2013, Nguyễn Thanh T3 đã nhận ma túy (heroin) từ Hoàng A tổng cộng là 81 bánh x 343,33gr = 27.809,73gram heroin.

Trương Thị Ngọc Á khai nhận: bắt đầu mua bán ma túy từ tháng 3/2013 đến khi bị bắt là tháng 6/2013, cùng tham gia mua bán ma túy với Ngọc Á còn có con dâu là Nguyễn Thanh T3. Nguồn heroin Ngọc Á liên hệ và thỏa thuận mua

6

bán, giá cả với Lê Nguyễn Hoàng A và giao cho Nguyễn Thanh T3 trực tiếp đi nhận ma túy đem về cho Ngọc Á để Ngọc Á phân lẻ ra bán cho khách kiếm lời. Cứ khoảng từ 2 đến 3 ngày, Ngọc Á gọi điện thoại cho Hoàng A để mua 1 lần, mỗi lần mua từ 1 đến 2 hoặc 3 bánh, với giá 190.000.000 đồng/1 bánh rồi bảo T3 sang nhà Hoàng A để nhận heroin đem về nhà giao cho Ngọc Á để Ngọc Á phân lẻ ra thành nhiều cục nhỏ, gồm các loại 2,5 chỉ, 5 chỉ và 1 lượng heroin. Mỗi bánh heroin, Ngọc Á phân chia thành 18 cục loại 5 chỉ hoặc 36 cục loại 2,5 chỉ bán cho khách với giá 5.750.000 đồng/2,5 chỉ, 11.500.000 đồng/5 chỉ và 23.000.000 đồng/1 lượng và thu lời được khoảng từ 15.000.000 – 17.000.000 đồng. Sau khi bán hết ma túy, Ngọc Á gom tiền đưa cho T3 bảo T3 đem sang nhà Hoàng A giao cho Hoàng A. Từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013, Ngọc Á đã mua heroin của Hoàng A nhiều lần, tổng cộng khoảng 67 bánh. Toàn bộ số heroin mua được, Ngọc Á đã phân ra bán hết cho một số đối tượng tại khu vực quận H. Trong đó, Ngọc Á khai đã bán cho Võ Thị P khoảng từ 5-6 lần, tổng cộng 6,5 lượng heroin; bán cho Phạm Thị Ngọc T4 2 lần, tổng cộng 1 lượng heroin; Bán cho Châu Thủy S (sinh năm 1974, ở Thành phố Cần Thơ) 2 lần, tổng cộng 4 lượng heroin; bán cho Bảy V (không rõ lai lịch, địa chỉ) khoảng 13 lần, tổng cộng khoảng 9- 10 lượng heroin; bán cho Y (không rõ lai lịch, địa chỉ) khoảng 4-5 lần, tổng cộng khoảng từ 2- 2,5 lượng heroin; bán cho D1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) khoảng 5-6 lần, tổng cộng khoảng từ 2,5- 3 lượng heroin; bán cho T9 (không rõ lai lịch, địa chỉ) khoảng 3-4 lần, tổng cộng khoảng từ 1,5 - 2 lượng heroin; bán cho B (không rõ lai lịch, địa chỉ) khoảng 1-2 lần, khoảng từ 5 chỉ - 1 lượng heroin; bán cho C2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) khoảng 7 lần, tổng cộng khoảng 3,5 lượng heroin; bán cho D2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) khoảng 2 lần, tổng cộng khoảng 1 lượng heroin và một số đối tượng khác nhưng Ngọc Á không nhớ rõ tên và địa chỉ. Vào ngày 15/6/2013, khi Ngọc Á đang cất giấu 01 gói heroin trọng lượng 0,9005gram chế phẩm heroin tại nhà để bán cho khách thì bị Công an Q phát hiện bắt quả tang. Ngọc Á khai đây là số heroin còn lại khoảng 2,5 phân của Ngọc Á mua của Hoàng A trước đó về phân ra chưa bán hết. Trong quá trình điều tra, Trương Thị Ngọc Á không thừa nhận đã mua ma túy (heroin) của Lê Nguyễn Hoàng A với số lượng 81 bánh heroin, mà chỉ mua với số lượng mỗi lần từ 18 con gà đến 36 con gà (mỗi 1 con gà là 5 chỉ heroin, 18 con gà là 1 bánh heroin, 36 con gà là 2 bánh heroin) khoảng 67 bánh heroin.

Mặc dù, Trương Thị Ngọc Á chỉ khai nhận đã mua của Hoàng A 67 bánh heroin nhưng căn cứ vào lời khai của Hoàng A (là người bán) và Nguyễn Thanh T3 (là con dâu của Ngọc Á, là trực tiếp nhận heroin), đã đủ cơ sở buộc Trương Thị Ngọc Á phải chịu trách nhiệm về số lượng ma túy tổng cộng là 81 bánh heroin. (81 bánh x 343,33gr = 27.809,73gram heroin).

Võ Thị P khai nhận: Bắt đầu mua bán heroin từ tháng 3/2013 đến khi bị bắt ngày 15/6/2013. Nguồn heroin Phán mua của Trương Thị Ngọc Á và của người phụ nữ (không rõ tên, lai lịch) rồi đem bán lại cho Phạm Thị Ngọc T4 và một số đối tượng khác tại khu vực quận H để kiếm lời. Trong đó, P đã mua của Ngọc Á rồi bán lại cho T4 khoảng từ 5-6 lần, mỗi lần từ 5 chỉ đến 1 lượng và có khi 1,5 đến 2 lượng heroin, với giá mua là 11.500.000 đồng/5 chỉ và 23.000.000 đồng/1 lượng, giá bán là 12.000.000 đồng/5 chỉ và 24.000.000 đồng/1 lượng, thu lời

7

500.000 đồng/5 chỉ và 1.000.000 đồng/1 lượng, tổng cộng P đã mua của Ngọc Á rồi bán T4 khoảng 6,5 lượng heroin; Mua của người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ, ở quận H) khoảng từ 9-10 lần, mỗi lần mua 2,5 chỉ, với giá 5.750.000 đồng rồi bán lại cho một số đối tượng khác tại khu vực quận H với giá 6 triệu đồng, thu lời 250 ngàn đồng/2,5 chỉ, tổng cộng P đã mua của người phụ nữ rồi bán lại cho một số đối tượng khác tại khu vực quận H khoảng 2,25 lượng heroin. Trong quá trình điều tra, chỉ có lời khai của P về việc mua ma túy của đối tượng phụ nữ tại quận H với số lượng 2,25 lượng heroin để bán lại kiếm lời. Do đó, chưa đủ căn cứ xác định về số trọng lượng trên, nên không có cơ sở để buộc Võ Thị P phải chịu trách nhiệm hình sự về số lượng ma túy là 2,25 lượng heroin.

Như vậy trong thời gian từ tháng 3/2013 đến ngày 15/6/2013, Võ Thị P đã mua ma túy (heroin) từ Trương Thị Ngọc Á tổng cộng là 6,5 lượng heroin (6,5 lượng x 37,5gr/1 lượng = 243,75gram heroin). Hưởng lợi được khoảng 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng.

Phạm Thị Ngọc T4 khai nhận: Bắt đầu hoạt động mua bán ma túy (heroin) từ tháng 3/2013 đến khi bị bắt ngày 15/6/2013. Nguồn heroin T4 mua của Trương Thị Ngọc ÁVõ Thị P rồi đem bán lại cho A Khắc T5 và một số đối tượng khác tại khu vực quận H để kiếm lời. Tham gia vào việc mua bán ma túy của Ngọc T4 còn có Lê Thị Thùy DTrương Thị M với vai trò giúp sức. Trong đó, Lê Thị Thùy D là người phụ giúp cho Ngọc T4 cất giữ heroin và được Ngọc T4 trả công cho từ 100.000đ đến 150.000 đồng/1 tuần, còn Trương Thị M là người phụ giúp cho Ngọc T4 đem hêrôin đi giao cho khách và được Ngọc T4 trả công cho 240 ngàn đồng/1 lần giao 2,5 chỉ. Trong thời gian mua bán ma túy, Ngọc T4 đã mua của Ngọc Á 2 lần, mỗi lần 5 chỉ, với giá 11.500.000 đồng, tổng cộng Ngọc T4 đã mua của Ngọc Á 1 lượng heroin; Mua của Võ Thị P khoảng từ 5-6 lần, mỗi lần từ 5 chỉ đến 1 lượng và có khi 1,5 đến 2 lượng heroin, với giá 12.000.000 đồng/5 chỉ và 24.000.000 đồng/1 lượng, tổng cộng Ngọc T4 đã mua của P khoảng 6,5 lượng heroin. Ngọc T4 đã bán cho A Khắc T5 khoảng 10 lần, mỗi lần từ 2,5 chỉ đến 5 chỉ, với giá 13.000.000/5 chỉ (trong đó có 4 lần Ngọc T4 trực tiếp giao hêrôin cho A Khắc T5 và 6 lần Ngọc T4 nhờ M đem đi giao cho A Khắc T5) và bán cho một số đối tượng khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại khu vực quận H. Tổng cộng Phạm Thị Ngọc T4 đã mua bán 7,5 lượng heroin, thu lời 15.000.000 đồng. Ngày 15/6/2013, khi Ngọc T4 đang gửi cho Lê Thị Thùy D cất giấu 21 gói heroin, trọng lượng 26,0092gram chế phẩm heroin tại nhà D để bán cho khách thì bị Công an quận 8 khám xét phát hiện và thu giữ được vật chứng nêu trên. Ngọc T4 khai đây là số heroin còn lại khoảng 7,5 chỉ heroin của Ngọc T4 mua của Võ Thị P trước đó về phân ra chưa bán hết.

Như vậy trong thời gian từ tháng 3/2013 đến ngày 15/6/2013, Phạm Thị Ngọc T4 đã mua ma túy (heroin) từ Trương Thị Ngọc ÁVõ Thị P tổng cộng là 7,5 lượng heroin (7,5 lượng x 37,5gr/1 lượng = 281,25gram heroin). Hưởng lợi được khoảng 15.000.000 đồng.

Trương Thị M khai nhận: Do sống gần nhà với Phạm Thị Ngọc T4 và biết Ngọc T4 mua bán ma túy (heroin). Bắt đầu từ tháng 3/2013 đến khi bị bắt ngày 15/6/2013, Trương Thị M đã được Ngọc T4 thuê phụ giúp trong việc đem giao heroin cho các đối tượng mua ma túy của Ngọc T4. Trong đó, Trương Thị M đã

8

nhận ma túy (heroin) từ T4 đem đi giao cho A K2 T4 được 6 lần, mỗi lần 2,5 chỉ, với giá 6.500.000 đồng và nhận tiền bán ma túy mang về giao cho Ngọc T4 và được Ngọc T4 trả công 240.000 đồng/1 lần giao 2,5 chỉ (trong đó, 200.000đ tiền công và 40.000đ tiền xe ôm). Tổng cộng Trương Thị M đã giao cho A K2 Thủy 1,5 lượng heroin và được Ngọc T4 trả công 1.200.000 đồng tiền công và 240.000₫ tiền xe ôm.

Như vậy trong thời gian từ tháng 3/2013 đến ngày 15/6/2013, Trương Thị M đã nhận ma túy (heroin) từ Phạm Thị Ngọc T4 đem giao cho A Khắc T5, tổng cộng là 1,5 lượng heroin (1,5 lượng x 37,5gr/1 lượng = 41,25gram heroin). Hưởng lợi được khoảng 1.200.000 đồng.

Lê Thị Thùy D khai nhận: Sống gần nhà và là hàng xóm của Phạm Thị Ngọc T4. Từ tháng 3/2013 đến khi bị bắt ngày 15/6/2013, Phạm Thị Ngọc T4 nói với D phụ giúp cho T4 cất giữ ma túy heroin cho T4, để T4 bán lại cho khách kiếm lời và trả công cho D từ 100.000đ đến 150.000 đồng/1 tuần, D đồng ý, Từ đó, Ngọc T4 nhiều lần đưa những chiếc bóp có đựng heroin cho D đem về nhà cất giấu vào tủ quần áo. Mỗi khi có khách hỏi mua ma túy thì T4 gọi điện thoại cho D mang chiếc bóp có đựng heroin sang đưa cho Ngọc T4 lấy heroin bán cho khách. Đồng thời, theo yêu cầu của Ngọc T4, D có 2 lần giao cho Trương Thị M, mỗi lần 1 cục H5 (tổng cộng 2 cục H5) để M đem đi giao cho khách. Do heroin đã được Ngọc T4 phân chia thành từng cục nhỏ bỏ sẵn vào bóp trước khi giao cho D, nên D không biết rõ số lượng ma túy là bao nhiêu. Vào ngày 15/6/2013 khi Lê Thị Thùy D đang cất giữ chiếc bóp có đựng 21 gói heroin, trọng lượng 26,0092gram và 1 chiếc cân điện tử tại nhà của D thì bị Công an quận Q khám xét phát hiện và thu giữ được vật chứng. D khai số heroin và cân điện tử này là của Phạm Thị Ngọc T4 đưa cho D cất giữ trước đó nhưng D chưa kịp đưa lại cho T4 thì bị thu giữ.

A Khắc T4 khai nhận: Bắt đầu mua bán heroin từ khoảng tháng 3/2013 đến khi bị bắt ngày 15/6/2013. Trong thời gian mua bán ma túy, A Khắc T5 đã mua của Phạm Thị Ngọc T4 được 10 lần, mỗi lần 2,5 chỉ, với giá 6.500.000 đồng/2,5 chỉ (trong đó Phạm Thị Ngọc T4 trực tiếp giao heroin cho A K2 Thủy 4 lần, còn Trương Thị M giao cho A K2 Thủy 6 lần). Sau khi mua ma túy của Ngọc T4M, A K2 Thủy phân nhỏ ma túy ra và bán lại cho đối tượng tên P2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở bến xe C, quận F và một số đối tượng khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại khu vực quận H với giá 8.000.000 đồng/2,5 chỉ, thu lời 1.500.000 đồng/2,5 chỉ. Tổng cộng A Khắc T5 đã mua của Phạm Thị Ngọc T4 khoảng 2,5 lượng heroin, thu lời được 15.000.000 đồng. Ngày 9/6/2013 A Khắc T5 mua của Phạm Thị Ngọc T4 2,5 chỉ heroin, sau đó A Khắc T5 đã phân ra bán cho P2 1,5 chỉ, với giá 4.800.000 đồng, còn lại 1 chỉ heroin, trọng lượng 3,5915 gram A K2 T5 đem về cất giấu tại nhà thuê tại số C ấp C, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an quận 8 khám xét phát hiện và thu giữ được vật chứng như nêu trên.

Như vậy trong thời gian từ tháng 3/2013 đến ngày 15/6/2013, A Khắc T5 đã mua ma túy (heroin) từ Phạm Thị Ngọc T4Trương Thị M, tổng cộng là 2,5 lượng heroin, đã bán hết 2,4 lượng heroin (2,4 lượng x 37,5gr/1 lượng = 90gram heroin); Còn lại 1 chỉ heroin, trọng lượng 3,5915 gram bị phát hiện thu giữ. Tổng cộng A Khắc T5 đã mua bán heroin với số lượng 93,5915gram heroin và hưởng lợi được khoảng 15.000.000 đồng.

9

  1. Hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Trần Thị Thùy L1, Tăng Thành L2Nguyễn Thị Thảo H3.

Nguyễn Thị Thảo H3 khai nhận: Quen biết với Trần Thị Thùy L1 và cách khoảng 10 ngày trước khi bị bắt, H3 được Thùy L1 đứng ra thuê căn nhà số B L, phường H, quận A giao cho H3 để vừa ở, vừa làm nơi cất giấu và phân chia lẻ heroin giúp cho Thùy L1 để mang bán cho khách, mỗi lần nhận ma túy từ Thùy L1 mang về phân chia theo yêu cầu thì Thùy L1 trả công cho H3 10.000.000 đồng. Vào ngày 01/4/2014, theo yêu cầu của Thùy L1, H3 đến điểm hẹn ở lề đường gần khu vực Chợ N, quận I, gặp 2 vợ chồng Trần Thị Thùy L1Tăng Thành L2. Tại đây, Thùy L1 đưa 01 túi nylon màu đen đựng heroin cho H3 để H3 đưa về nhà thuê cất giấu và phân chia ra thành 17 gói ma túy nhỏ, trọng lượng 1.385,3712 gram chế phẩm heroin. Đến chiều ngày 03/4/2014, khi H3 đang đem số heroin trên để giao lại cho 2 vợ chồng L1 mang đi bán cho khách thì bị Công an quận G phát hiện bắt quả tang và thu giữ được số vật chứng nêu trên.

Trần Thị Thùy L1 khai nhận: Quen biết với Cao Trí T, Trần Tuấn A1 và biết T, A1 có nguồn cung cấp heroin nên Thùy L1 cùng với chồng là Tăng Thành L2 đã mua ma túy (heroin) của TA1 để bán kiếm lời. Từ tháng 03 đến tháng 06/2013, Thùy L1 cùng Thành L2 đã mua của T nhưng A1 là người trực tiếp giao, tổng cộng 57 bánh heroin, với giá 175.000.000 đồng/1 bánh rồi đem bán lại cho khách tại khu vực quận G với giá 190.000.000 đồng/1 bánh. Lời khai của Trần Thị Thùy L1 phù hợp với lời khai của TA1. Riêng đối với việc quan hệ mua bán ma tuý với Nguyễn Thị Thảo H3 thì Trần Thị Thùy L1 không thừa nhận; L1 khai không quan hệ mua bán ma tuý với H3 và số heroin của H3 bị bắt giữ không phải của L1 đưa cho H3 như lời khai của H3. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của Nguyễn Thị Thảo H3 và lời khai ban đầu của Tăng Thành L2 về việc vào đầu tháng 4/2014, Thành L2 có chở Thùy L1 đi bằng xe ô tô đến gặp H3 ở lề đường gần khu vực Chợ N, quận IThành L2 có nhìn thấy Thùy L1 đưa cho H3 01 bịch nylon màu đen, phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị Thảo H3 và các chứng cứ khác mà Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập được. Do đó, đã có căn cứ chứng minh hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” của Trần Thị Thùy L1 với số lượng ma túy là 1.385,3712 gram chế phẩm heroin, mà Thùy L1 đã giao cho Nguyễn Thị Thảo H3 vào ngày 01/4/2014.

Như vậy trong thời gian từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013, Trần Thị Thùy L1 đã mua ma túy (heroin) từ Cao Trí TTrần Tuấn A1, tổng cộng là 57 bánh heroin (57 bánh x 343,33gr = 19.569,81gram heroin); Ngoài ra, vào ngày 01/4/2014, Trần Thị Thùy L1 còn giao 1.385,3712 gram chế phẩm heroin, cho Nguyễn Thị Thảo H3. Tổng cộng số lượng ma túy mà Trần Thị Thùy L1 đã thực hiện hành vi phạm tội là: 19.569,81gram + 1.385,3712 gram = 20.955,1812gram heroin.

10

Tăng Thành L2 ban đầu khai nhận: Cùng với vợ là Trần Thị Thùy L1 có quen biết với Cao Trí T, Trần Tuấn A1. Khi biết Thùy L1 quan hệ mua bán ma tuý (heroin) với TA1 thì Thành L2 đã tham gia cùng với Thùy L1 bằng cách lái xe ô tô chở Thùy L1 đi gặp TA1 để mua H4 và chở Thùy L1 đem heroin đi bán cho khách, rồi cùng Thùy L1 nhận tiền về giao cho A1T. Từ tháng 03 đến tháng 06/2013, Thành L2 đã nhiều lần chở Thùy L1 đến mua heroin của T, nhưng A1

người trực tiếp giao ma túy, mỗi lần vợ chồng L1 mua từ 2 - 5 bánh heroin hoặc có khi 10 bánh heroin. Trong đó, Thành L2 trực tiếp nhận 04 lần, khoảng 20 bánh heroin rồi đem bán cho khách của Thùy L1 tại khu vực quận G và nhận tiền về giao cho A1T. Ngoài ra, có 02 lần Thành L2 mua riêng của A1 mỗi lần ½ bánh heroin với giá 80.000.000 đồng (tổng cộng 1 bánh heroin), rồi mang đi bán lại cho khách của Thành L2 với giá 90.000.000 đồng/½ bánh heroin. Tổng cộng Tăng Thành L2Trần Thị Thùy L1 đã mua bán ma túy (heroin) của TA1 với số lượng là 57 bánh heroin. Lời khai ban đầu của Tăng Thành L2 phù hợp với lời khai của T, A1Trần Thị Thùy L1, cùng các chứng cứ khác mà Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập được. Sau đó, Tăng Thành L2 phản cung không thừa nhận có tham gia mua bán ma túy chung với Trần Thị Thùy L1, Cao Trí TTrần Tuấn A1. Tuy nhiên, căn cứ lời khai nhận ban đầu của Tăng Thành L2, lời khai của T, A1, Thùy L1 và các chứng cứ khác, đã có đủ cơ sở xác định Tăng Thành L2 đồng phạm với Trần Thị Thùy L1 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” với số lượng là 57 bánh heroin.

Riêng đối với việc quan hệ mua bán ma tuý giữa Trần Thị Thùy L1 với Nguyễn Thị Thảo H3 thì Tăng Thành L2 khai không biết rõ. Tăng Thành L2 khai khoảng đầu tháng 4/2014, Tăng Thành L2 có chở Trần Thị Thùy L1 đi bằng xe ô tô đến gặp Nguyễn Thị Thảo H3 ở lề đường gần khu vực Chợ N, quận IThành L2 có nhìn thấy Thùy L1 đưa cho H3 01 bịch nylon màu đen nhưng không biết rõ bên trong là ma tuý. Do chỉ có 1 lời khai của Nguyễn Thị Thảo H3 xác nhận, khi nhận ma túy từ Thùy L1 thì có thấy Thành L2 ngồi trong xe ôtô và không có trao đổi với Thành L2 về việc mua bán ma túy. Dó đó, không có cơ sở để buộc Tăng Thành L2 phải chịu trách nhiệm về số lượng ma túy là 1.385,3712 gram chế phẩm heroin, mà Trần Thị Thùy L1 đã giao cho Nguyễn Thị Thảo H3 vào ngày 01/4/2014.

Như vậy trong thời gian từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013, Tăng Thành L2 đã cùng với Trần Thị Thùy L1 mua ma túy (heroin) từ Cao Trí TTrần Tuấn A1, tổng cộng là 57 bánh heroin (57 bánh x 343,33gr = 19.569,81gram heroin).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 297/2016/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Tuyên bố bị cáo Cao Trí T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p, o khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 34 của Bộ luật hình sự; xử phạt Cao Trí T tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2013.

Buộc bị cáo Cao Trí T nộp phạt bổ sung số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng để tịch thu sung quỹ nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 25/8/2016, bị cáo Cao Trí T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 01/9/2016, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có kháng nghị số 26/KNPT-VKS-P1 ngày 31/8/2016 với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm

11

xét xử lại vụ án theo hướng tăng mức hình phạt từ tù Chung thân lên Tử hình đối với các bị cáo Cao Trí T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cao Trí T vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án số hình sự sơ thẩm số 297/2016/HS-ST ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Cao Chí T10.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

  1. Bị cáo Cao Trí T bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  2. Ngày 31/8/2016 Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị phúc thẩm số 26/KNPT-VKS-P1 về việc tăng hình phạt tù chung thân lên hình phạt tử hình đối với các bị cáo: Nguyễn Thành C, Trương Thị Ngọc Á, Tăng Thành L2Cao Trí T.

Song trong giai đoạn chờ chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Cao Trí T mắc bệnh tâm thần. Theo kết luận pháp y tâm thần số160/KL-VPYTW ngày 28 tháng 3 năm 2018 của Viện Pháp y tâm thần trung ương B1 và căn cứ vào kết luận giám định yêu cầu bắt buộc chữa bệnh đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tạm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị cáo. Khi phục hồi sẽ được tiếp tục xét xử.

Căn cứ vào kết quả giám định số 586/KLBB-VPYTW ngày 14/8/2023 của Viện Pháp Y tâm thần trung ương B1 thì bị cáo Cao Trí T đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Bị cáo Trung đủ khả năng nhận thức điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T.

Căn cứ vào Quyết định số 214/2023/QĐ-TA ngày 16/11/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh về việc đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị cáo Cao Trí T.

12

[1] Nhận định của Hội đồng xét xử:

Bị cáo Cao Trí T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Viện Trưởng Viện kiểm sát thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.

Xét hành vi của bị cáo T thì thấy: bắt đầu từ tháng 3/2013 đến khi bị bắt là tháng 6/2013, bị cáo Cao Trí T đã thiết lập đường dây mua bán trái phép chất ma túy (heroin) từ các tỉnh phía Bắc vào thành phố Hồ Chí Minh để tiêu thụ. Bị cáo T là người cầm đầu tổ chức, tên K là người pha trộn và cất giữ heroin, bị cáo A1 là người đứng ra giao dịch mua bán heroin. Qua lời khai của các bị cáo đã xác định bị cáo Cao Trí T và bị cáo Trần Tuấn A1 mua bán tổng cộng 158 bánh heroin, còn lại 55 bánh do K cất giữ. Ngày 14/6/2013, Cao Trí T chỉ đạo A1 trực tiếp bán bán 15 bánh heroin có trọng lượng 5.097,06 gram heroin cho Lê Nguyễn Hoàng A, sau đó trên đường A về thì bị bắt quả tang. Qua khám xét thu giữ của T gồm 17 viên thuốc lắc và 2 gói ma túy dạng đá có trọng lượng 2,5582 gram Methamphetamine (MA) T dùng để chào bán cho các đối tượng khác. Do đây là án truy xét nên bị cáo Cao Trí TTrần Tuấn A1 phải chịu trách nhiệm hình sự với những hành vi mua bán ma túy đã xảy ra trong quá khứ với tổng trọng lượng ma túy là 158 bánh heroin x 343,33 gram = 54.246,14 gram heroin và 2,5582 gram MA. Do đó, cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194 xử phạt tử hình đối với bị cáo Trần Tuấn A1 là tương xứng với tính chất và hành vi của bị cáo. Riêng đối với bị cáo Cao T11 Trung cấp sơ thẩm xử phạt tù chung thân là chưa tương xứng với tính chất, hành vi của bị cáo nên cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo T.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Cao Trí T thì thấy: trong vụ án này vai trò của Cao Trí T cầm đầu, chủ mưu. Bị cáo là người trực tiếp liên hệ với các đối tượng cung cấp ma túy và thiết lập đường dây mua bán ma túy từ các tỉnh phía Bắc vào Thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ với số lượng đặc biệt lớn (158 bánh) và thu lợi trong quá trình phạm tội khoảng 4,3 tỉ đồng. Quá trình điều tra bị cáo không khai nhận chính xác các đối tượng cung cấp ma túy là nhằm che giấu đường dây tham gia mua bán ma túy để tẩu tán ma túy và trốn tránh việc xử lý của pháp luật. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần phạm tội và bị xử lý trước pháp luật, đồng thời bị cáo T không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt để xem xét nhưng cấp sơ thẩm đã tuyên mức án chung thân với các bị cáo là chưa phù hợp và không tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo đã thực hiện, với mức hình phạt đã tuyên xử là chưa nghiêm khắc trong việc áp dụng hình phạt đối với bị cáo, với loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đã được quy định trong Bộ luật hình sự, làm giảm tác dụng đấu tranh phòng và chống tội phạm về ma túy. Do đó, cấp phúc

13

thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tăng hình phạt đối với bị cáo Cao Trí T từ chung thân lên tử hình.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Đối với các bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Thành C, Trương Thị Ngọc Á, Tăng Thành L2 đã được xét xử xong và bản án đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập, xử lý trong vụ án này.

[2] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo nhưng chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và sửa bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Cao Trí T.
  • Chấp nhận kháng nghị số 26/KNPT-VKS-P1 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/8/2016.
  1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 297/2016/HSST ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với bị cáo Cao Trí T từ chung thân lên tử hình.

Tuyên bố bị cáo Cao Trí T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p,o khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 35 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Cao Trí T tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Buộc bị cáo Cao Trí T nộp phạt bổ sung số tiền 100.000.000 đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Cao Trí T phải chịu 200.000 đồng.

Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo Cao Trí T được quyền gởi đơn lên Chủ tịch nước để xin ân giảm án tử hình.

14

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các thẩm phán Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Phạm Trí Tuấn Phan Nhựt Bình Phan Văn Yên

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng THAHS- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Trại Tạm giam CA Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo (qua BGT Trại TG);
  • - Lưu hồ sơ, HCTP (DTTP 15 bản).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Yên

15

16

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 860/2024/HS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 860/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát tăng hình phạt đối với bị cáo Cao Trí T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger