|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/HS-ST Ngày: 31/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Thẩm phán: Ông Đặng Đức Hào
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài
Ông Nguyễn Ngọc Cang
Ông Vũ Công Sế
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26, 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Thanh V, sinh năm 1982 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: 92T2 khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Thanh D (đã chết) và bà Võ Thị A (đã chết); Đã ly hôn vợ là Nguyễn Thị Hồng T (sinh năm 1985) và có 01 con sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 24/10/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Người bào chữa: Luật sư Trần Anh D1 – Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
* Bị hại:
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1988. Địa chỉ: B Chung cư L, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Ông Phạm Văn B, sinh năm 1989. Địa chỉ: 7 N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1985. Địa chỉ: số A đường V, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
- Ông Nguyễn Hoàng Đức N, sinh năm 1985. Địa chỉ: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Bà Tăng Thị Tuyết N1, sinh năm 1965. Địa chỉ: ấp E, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Trương Tấn N2, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Dương Quang P, sinh năm 1982. Địa chỉ: khu phố H, thị trấn L, huyện L tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1988. Địa chỉ: I khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
- Ông Trịnh Văn P1, sinh năm 1982 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Phương T2, sinh năm 1985. Địa chỉ: A, khu phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T3, sinh năm 1994. Địa chỉ: B, khu phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Bà Trương Huỳnh N3, sinh năm 1987. Địa chỉ: khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Thanh V:
Tháng 12/2017, Nguyễn Thanh V mở Công ty TNHH S (địa chỉ: thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) hoạt động trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp. Từ cuối năm 2021 đến đầu năm 2022, Công ty của V ký kết hợp đồng, nhận thi công một số công trình về điện, cây xanh, đèn chiếu sáng... với Ủy ban nhân dân huyện Đ và Công ty Điện lực tỉnh B. Do không có tiền làm công trình nên Vũ bán nhiều tài sản là nhà đất và vay mượn tiền của nhiều người dẫn đến mất khả năng trả nợ. Sau đó, V có hỏi mượn tiền của bạn là anh Trần Văn T1, nhưng anh T1 không cho mượn tiền mà đưa ra đề nghị nếu V có nhà đất thì anh T1 sẽ mua lại. Do có ý định chiếm đoạt tiền của anh T1 nên V nói dối còn một số thửa đất do V và vợ là Nguyễn Thị Hồng T đứng tên sở hữu, sẽ làm hợp đồng đặt cọc để bán lại cho anh T1. V cung cấp cho anh T1 các bản photocopy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Hợp đồng uỷ quyền cho V của chị T để anh T1 tin tưởng giao tiền. Sau khi xem các giấy tờ nhà, đất do V cung cấp, anh T1 đồng ý mua, đồng thời anh T1 rủ anh Phạm Văn B tham gia góp vốn cùng anh T1.
Từ ngày 16/8/2022 đến ngày 26/8/2022, V đã lừa dối làm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất để chiếm đoạt tiền của anh T1 và anh B, cụ thể:
- + Đối với thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 14 ở thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (gọi tắt là thửa đất số 1175): Ngày 02/7/2022, V đã hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng ông Trịnh Văn P1, bà Phạm Thị L tại Văn phòng C – địa chỉ: khu phố D, phường P, thành phố B. Đến ngày 16/8/2022, Vũ làm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất này cho anh T1 và anh B giá 4 tỷ đồng; nhận cọc 3,54 tỷ đồng (trong đó: anh B chuyển khoản ngân hàng cho V số tiền 1,5 tỷ đồng; anh T1 đưa tiền mặt cho V số tiền 1,95 tỷ đồng; số tiền còn lại 90 triệu đồng anh T1 trừ vào số tiền Vũ thiếu nợ từ trước), thời hạn đặt cọc là 90 ngày. Tổng số tiền V chiếm đoạt của anh T1 và anh B là 3,54 tỷ đồng.
- + Đối với thửa đất số 1177, tờ bản đồ số 14 ở thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (gọi tắt là thửa đất số 1177): Vào ngày 11/8/2022, Vũ làm hợp đồng chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ngọc T3 (sinh năm 1994) tại Văn phòng C. Đến ngày 18/8/2022, V tiếp tục làm hợp đồng đặt cọc thửa đất số 1177 để chuyển nhượng cho anh T1 với giá là 1,2 tỷ đồng, anh T1 đặt cọc cho V số tiền 1 tỷ đồng, thời hạn đặt cọc là 30 ngày. Ngày 30/8/2022, V thoả thuận mua lại thửa đất số 1177 của bà T3 nên hai bên đã ký văn bản hủy bỏ hợp đồng công chứng tại Văn phòng C. Sau đó, V nhờ chị T (vợ V) đến Văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 1177 cho bà Nguyễn Phùng Kim N4 (sinh năm 1973). Tổng số tiền V chiếm đoạt của anh T1 là 1 tỷ đồng.
- + Đối với nhà gắn liền với đất thuộc thửa số 113, tờ bản đồ số 121 ở thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (gọi tắt là nhà đất thửa số 113): Vào ngày 23/6/2022, V và chị T ký hợp đồng ủy quyền cho bà Trương Huỳnh N3 (sinh năm 1978), hợp đồng ủy quyền được lập tại Văn phòng C. Ngày 26/8/2022, V tiếp tục làm hợp đồng đặt cọc nhà đất thửa số 113 để chuyển nhượng cho anh T1 với giá 900 triệu đồng, anh T1 đặt cọc cho V số tiền 600 triệu đồng, thời hạn đặt cọc là 30 ngày. Ngày 08/10/2022, bà N3 làm hợp đồng ủy quyền nhà đất thửa số 113 cho bà Nguyễn Thị Phương T2 (sinh năm 1985). Tổng số tiền V chiếm đoạt của anh T1 là 600 triệu đồng.
* Tổng hợp chung: Kết quả điều tra xác định với các thủ đoạn gian dối như đã nêu trên, từ ngày 16/8/2022 đến ngày 26/8/2022, Nguyễn Thanh V đã nhiều lần chiếm đoạt của các cá nhân anh Trần Văn T1 và anh Phạm Văn B với tổng số tiền 5.140.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình điều tra, bị can V đã khai nhận hành vi, thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của các cá nhân như đã nêu trên; lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về bối cảnh, diễn biến sự việc và số tiền chiếm đoạt (BL 52 đến 61).
* Vật chứng, tài liệu thu giữ đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án:
- Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 1175, ngày 16/8/2022, giữa anh Trần Văn T1, anh Phạm Văn B với Nguyễn Thanh V.
- Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 1177, ngày 18/8/2022, giữa anh Trần Văn T1 với Nguyễn Thanh V.
- Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng nhà đất tại thửa đất số 113, ngày 26/8/2022, giữa anh Trần Văn T1 với Nguyễn Thanh V.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Trần Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường 3,64 tỷ đồng. Bị cáo đã trả 150 triệu đồng, anh T1 yêu cầu bồi thường tiếp 3,49 tỷ đồng.
- Anh Phạm Văn B yêu cầu bị cáo bồi thường 1,5 tỷ đồng.
1.2. Các vấn đề khác có liên quan:
- - Đối với các thửa đất số 1175 và 1177: Ngày 27/3/2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 680, tờ bản đồ số 14 (Địa chỉ: thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cho V. Ngày 04/5/2018, Vũ làm hợp đồng tặng cho vợ là chị Nguyễn Thị Hồng T thửa đất 680. Ngày 01/8/2018, chị T tách thửa đất số 680 ra 04 thửa gồm: số 1175, số 1176, số A và số 1178. Sau đó, chị T ký hợp đồng ủy quyền công chứng các thửa đất số 1175, số 1177 cho V. Chị T không biết V chuyển nhượng thửa đất 1175 cho ông P1 và bà L; chuyển nhượng thửa đất 1177 cho bà T3 rồi V lại dùng thủ đoạn gian dối nhận tiền đặt cọc các thửa đất này để chiếm đoạt tiền của anh T1 và anh B nên hành vi của T không đồng phạm với V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- - Đối với nhà đất thuộc thửa đất số 113: Ngày 01/3/2016, Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thửa đất số 113 cho V. Ngày 23/6/2022, V và chị T ký hợp đồng ủy quyền chuyển nhượng nhà đất cho bà Trương Huỳnh N3. Chị T không biết V dùng thủ đoạn gian dối nhận tiền đặt cọc nhà đất thửa số 113 để chiếm đoạt tiền của anh T1, do đó hành vi của T không đồng phạm với V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự.
2. Tại Cáo trạng số 80/CT-VKS-P2 ngày 17 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Thanh V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 15 (Mười lăm) - 17 (Mười bảy) năm tù; và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường cho bị hại theo yêu cầu của các bị hại.
4. Tranh luận và đối đáp tại phiên tòa
4.1. Luật sư Trần Anh D1 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo:
Nhất trí với tội danh, Điều khoản truy tố, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo vì đầy đủ, đúng pháp luật. Mức án đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo quá cao. Đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm cân nhắc, xem xét các nội dung: bị cáo phạm tội bởi công ty làm ăn thua lỗ, lừa đảo để có vốn làm công trình, trả lương công nhân và thanh toán các khoản nợ của công ty, chứ không phải phung phí chi xài cá nhân; bị cáo có nhân thân tốt, trước khi bị bắt trực tiếp thờ cũng liệt sĩ Võ Thị T4 là cô ruột, bị cáo ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tuyên mức hình phạt phù hợp khoan hồng đầu khung theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, dưới mức đề nghị của Viện Kiểm sát, để bị cáo sớm được trở về với gia đình, bồi thường cho bị hại, làm công dân có ích cho xã hội.
4.3. Bị cáo đồng ý với bào chữa của Luật sư, không bào chữa và tranh luận bổ sung.
4.4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
4.5. Đại diện Viện Kiểm sát không đối đáp, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị.
5. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại, thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội.
6. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Từ ngày 16/8/2022 đến ngày 26/8/2022, Nguyễn Thanh V đã có hành vi gian dối thông tin sai sự thật về tình trạng pháp lý của các phần đất, khi cho rằng mình có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong khi các phần đất này bị cáo đã chuyển nhượng, nhận đầy đủ tiền chuyển nhượng của người khác, và không cồn quyền gì đối với các phần đất này. Bị cáo dùng các thông tin gian dối này khiến các anh Trần Văn T1, Phạm Văn B tưởng giả là thật, đồng ý thoả thuận nhận chuyển nhượng đất, đặt cọc để nhận chuyển nhượng đất theo yêu cầu của bị cáo, và bị bị cáo chiếm đoạt 5.140.000.000 đồng. Cụ thể:
- - Ngày 02/7/2022, V đã hợp đồng công chứng chuyển nhượng cho vợ chồng ông bà Trịnh Văn P1, Phạm Thị L, nhận đầy đủ tiền chuyển nhượng, giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên mua hoàn tất thủ tục giấy tờ đối với thửa đất số 1175, tờ bản đồ số 14 thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 16/8/2022, V tiếp tục làm hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng thửa đất số 1175 cho anh T1 và anh B, chiếm đoạt 3.540.000.000 đồng.
- - Ngày 11/8/2022, V đã hợp đồng chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ngọc T3 thửa đất số 1177, tờ bản đồ số 14 thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 18/8/2022, V tiếp tục làm hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng thửa đất số 1177 cho anh T1, chiếm đoạt 1.000.000.000 đồng.
- - Ngày 23/6/2022, V và vợ là chị Phạm Thị Hồng T5 đã chuyển nhượng nhưng ký hợp đồng ủy quyền cho bà Trương Huỳnh N3 nhà gắn liền với đất thuộc thửa số 113, tờ bản đồ số 121 ở thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 08/10/2022, bà N3 chuyển nhượng nhưng làm hợp đồng ủy quyền nhà đất thửa số 113 cho bà Nguyễn Thị Phương T2. Ngày 26/8/2022, V tiếp tục làm hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng nhà đất tại thửa số 113 cho anh T1, chiếm đoạt 600.000.000 đồng.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản là khách thể được pháp luật bảo vệ, phải tôn trọng, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, trả nợ, mặc dù đã chuyển nhượng toàn bộ, không còn liên quan và không có bất kỳ quyền năng nào của người sử dụng đất, bị cáo cố tình dùng bản photocopy giấy tờ cũ, đưa ra thông tin gian dối khiến bị hại tưởng giả là thật về việc bị cáo có quyền chuyển nhượng thửa đất, nhiều lần nhận tiền đặt cọc và chiếm đoạt của nhiều bị hại tổng cộng 5.140.000.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội nhiều lần với số tiền lớn, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, ra đầu thú, trước khi bị bắt là người nhận tiền trợ cấp, trực tiếp thờ cúng cô ruột là liệt sĩ Võ Thị T4, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Ông Trần Văn T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh V tiếp tục hoàn trả 3.490.000.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm chín mươi triệu đồng), ông Phạm Văn B yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh V hoàn trả 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Đây là yêu cầu hợp pháp nên buộc bị cáo phải tiếp tục trả cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt còn lại theo yêu cầu của bị hại.
[6] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu theo hồ sơ hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 1175, ngày 16/8/2022, giữa anh Trần Văn T1, anh Phạm Văn B với Nguyễn Thanh V; Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 1177, ngày 18/8/2022, giữa anh Trần Văn T1 với Nguyễn Thanh V; Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng nhà đất tại thửa đất số 113, ngày 26/8/2022, giữa anh Trần Văn T1 với Nguyễn Thanh V.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 15 (Mười lăm) năm tù, tính từ ngày 24/10/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Thanh V tiếp tục bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại ông Trần Văn T1 3.490.000.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm chín mươi triệu đồng), ông Phạm Văn B 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 1175 ngày 16/8/2022, giữa anh Trần Văn T1, anh Phạm Văn B với Nguyễn Thanh V; Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 1177 ngày 18/8/2022, giữa anh Trần Văn T1 với Nguyễn Thanh V; Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng nhà đất tại thửa đất số 113 ngày 26/8/2022, giữa anh Trần Văn T1 với Nguyễn Thanh V.
- Án phí sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Thanh V nộp 113.190.000 đồng (Một trăm mười ba triệu một trăm chín mươi nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 112.990.000 đồng (Một trăm mươi hai triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (31/7/2024), bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 86/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh V Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
