TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2024/KDTM-ST Ngày: 31-7-2024 V/v “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hữu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Công Chiếm.
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Quang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2022/TLST-KDTM ngày 23 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 738/2024/QĐXXST-KDTM ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 943/2024/QĐST-KDTM ngày 11/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.
Trụ sở: L, phường L, quận Đ, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Gia Đ – chức vụ: Nhân viên ngân hàng (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bị đơn: Công ty TNHH K.
Trụ sở: phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Thế T - chức vụ: Giám đốc (vắng mặt). - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Thế T. (vắng mặt)
Địa chỉ: Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 11 năm 2022, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo nguyên đơn Ngân hàng TMCP V do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 13/01/2021 nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (chi nhánh B) ký Hợp đồng tín dụng (cho vay hạn mức) số BEN/20240 và các Khế ước nhận nợ: Số BEN/20240-04 ngày 11/01/2022, số BEN/20240-05 ngày 12/01/2022 và số BEN/20240-06 ngày 13/01/2022 cho bị đơn Công ty TNHH K vay số tiền 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng), thời hạn 06 tháng, lãi suất và điều chỉnh lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng. Để bảo đảm khoản vay, ông Bùi Thế T đã ký với nguyên đơn hợp đồng bảo lãnh cá nhân số BEN/20240/HDBL ngày 13/01/2021.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Nhiều lần bị nhắc nợ nhưng bị đơn vẫn không thanh toán. Tạm tính đến ngày 31/7/2024 bị đơn vẫn còn nợ nguyên đơn số tiền: Gốc 1.384.987.286đ + lãi 856.009.336đ = 2.240.996.622đ (hai tỷ hai trăm bốn mươi triệu chín trăm chín mươi sáu ngàn sáu trăm hai mươi hai đồng).
Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả dứt số tiền nợ trên. Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 01/8/2024 đến khi trả dứt nợ. Trường hợp chưa trả dứt thì yêu cầu ông T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán dứt nợ cho nguyên đơn theo hợp đồng bảo lãnh cá nhân số BEN/20240/HDBL ngày 13/01/2021.
[2] Phía bị đơn và ông Bùi Thế T (vắng mặt):
Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Thế T đến tòa để làm việc nhưng không lần nào có mặt và không rõ lý do. Theo kết quả cung cấp thông tin doanh nghiệp của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H tại Phiếu cung cấp thông tin số 9370/ĐKKD-T6 ngày 28/11/2023 thì Công ty TNHH K, trụ sở: phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (thay đổi lần 4, ngày 14/9/2023), người đại diện theo pháp luật là ông Bùi Thế T - chức vụ: Giám đốc, chưa đăng ký giải thể. Đây là thuộc trường hợp bị đơn “cố tình giấu địa chỉ” không thông báo cho nguyên đơn biết theo quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về “Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án” nên Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Phía nguyên đơn ngoài đơn xin không tiếp tục hòa giải cũng không bổ sung gì thêm.
Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án đã tiến hành điều tra, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và mở phiên tòa xét xử hôm nay.
Ông Lê Gia Đ đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có làm đơn xin xét xử vắng mặt các phiên tòa đã được triệu tập do bận công việc nên Tòa án căn cứ Điểm a, Khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt ông Đ.
2
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tại phiên tòa hôm nay: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định mặc dù chưa bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định; phía nguyên đơn đều chấp hành tốt các quy định pháp luật, bị đơn và ông T không chấp hành các quy định pháp luật. Có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 117, 118, 119, 335, 336, 342, 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 306 của Luật Thương mại; các Điều 90, 91, 95 của Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thảo luận của hội đồng xét xử, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và các bên đều có mục đích lợi nhuận. Đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn có trụ sở cuối cùng tại Quận A nên căn cứ vào Điểm a, Khoản 1 Điều 35 và Điểm a, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V trên cơ sở căn cứ vào lời tự khai của đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Có đủ cơ sở để khẳng định nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (chi nhánh B) vào ngày 13/01/2021 đã ký Hợp đồng tín dụng (cho vay hạn mức) số BEN/20240 và các Khế ước nhận nợ: Số BEN/20240-04 ngày 11/01/2022, số BEN/20240-05 ngày 12/01/2022 và số BEN/20240-06 ngày 13/01/2022 để cho bị đơn Công ty TNHH K vay số tiền 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng), thời hạn 06 tháng, lãi suất và điều chỉnh lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng. Ông Bùi Thế T cũng đã ký kết với nguyên đơn hợp đồng bảo lãnh cá nhân số BEN/20240/HDBL ngày 13/01/2021 nhằm bảo đảm khoản vay này. Đây là những sự kiện pháp lý có thật. Các bên giao kết với nhau hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa nên Hội đồng xét xử xác định các giao dịch này có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật.
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội thẩm nhân dân bà Nguyễn Thị Xuân H và bà Nịnh Thị Tuyết M đều vắng mặt do bận việc nên có hội thẩm nhân dân là ông Nguyễn Công C và bà Nguyễn Thị Thúy H1 thay thế để xét xử.
Bị đơn và ông Bùi Thế T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến Toà nghe xử vào các ngày 11/7/2024 và 31/7/2024 nhưng đều vắng mặt nên Toà án căn cứ Điểm b, Khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn và
3
ông T. Kết quả xác minh của Công an P, quận G ngày 23/01/2024 cho biết ông T không thường trú, tạm trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ: 7 N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét thấy yêu cầu và phạm vi khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 31/7/2024 bị đơn vẫn còn nợ nguyên đơn số tiền: Gốc 1.384.987.286đ + lãi 856.009.336đ = 2.240.996.622đ (hai tỷ hai trăm bốn mươi triệu chín trăm chín mươi sáu ngàn sáu trăm hai mươi hai đồng) là có cơ sở để chấp nhận.
Bị đơn còn phải trả tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày 01/8/2024 đến ngày trả dứt nợ. Trường hợp chưa trả dứt nợ thì ông T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho đến khi dứt nợ theo hợp đồng bảo lãnh cá nhân đã ký kết. Hội đồng xét xử xét thấy những yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nghĩ nên chấp nhận.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: 76.819.932đ (bảy mươi sáu triệu tám trăm mười chín ngàn chín trăm ba mươi hai đồng) bị đơn phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 147, 238, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Buộc bị đơn Công ty TNHH K thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP V tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 31/7/2024 là: Gốc 1.384.987.286đ + lãi 856.009.336đ = 2.240.996.622đ (hai tỷ hai trăm bốn mươi triệu chín trăm chín mươi sáu ngàn sáu trăm hai mươi hai đồng). Trường hợp chưa trả dứt nợ thì ông Bùi Thế T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho đến khi dứt nợ theo hợp đồng bảo lãnh cá nhân đã ký kết.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bị đơn còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì tính theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 76.819.932đ (bảy mươi sáu triệu tám trăm mười chín ngàn chín trăm ba mươi hai đồng) bị đơn phải nộp. Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP V số tiền 37.399.112đ (ba mươi bảy triệu ba trăm chín mươi chín ngàn một trăm mười hai đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0022481 ngày 19/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Hữu Hạnh |
5
Bản án số 86/2024/KDTM-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 86/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
