Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 86/2024/HS-ST

Ngày 30-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.
  • 2. Ông Nguyễn Văn Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 30/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 16/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn M, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 01/01/2003 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1978; Con bà: Nguyễn Thị M1, sinh năm: 1976; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Vũ Văn M2, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 09/3/2002 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn B (đã chết); Con bà: Phạm Thị N, sinh năm: 1980; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không. Tiền án: 01 tiền án - Tại bản án số 60/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2023.
  4. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Ngô Văn B1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 08/5/2006 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 11 tháng 14 ngày); Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn S, sinh năm: 1979; Con bà: Lê Thị S1, sinh năm: 1983; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
  6. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  7. Họ và tên: Trịnh Thu H, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 28/12/2004 tại xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Hồng Q, sinh năm: 1973; Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1978; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không.
  8. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn B1:

  • Bà Nguyễn Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Vũ Thanh L, sinh năm: 1974, nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • Anh Trịnh Đình H2, sinh năm: 2001, nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 22/4/2024, Ngô Văn B1 đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 36B7-57681 đến nhà Vũ Văn M2 ở thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa chơi. Một lúc sau M cũng đến nhà M2 chơi. M2, M và B1 ngồi nói chuyện với nhau. Do có nhu cầu sử dụng “Cỏ” (một loại ma túy được tẩm ướp trên các sợi thảo mộc), nên M nói với B1 cầm điện thoại của M đi cắm lấy tiền mua “Cỏ” về cả bọn sử dụng, B1 đồng ý. M bảo B1 mua 04 túi “Cỏ”. M đưa điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen cho B1 đi cầm cố. B1 đi xe mô tô biển kiểm soát 36B7-57681 đến nhà anh Vũ Thanh L, sinh năm 1974 ở khu phố L, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa để cầm cố điện thoại. Khi gặp anh L, B1 hỏi anh L cầm cố chiếc điện thoại Iphone 7 Plus được bao tiền, thì anh L nói được 1.000.000 đồng. B1 vào ứng dụng Messenger trên điện thoại của M đăng nhập vào tài khoản Facebook “Ng Binh” của mình nhắn tin cho tài khoản Facebook của Trịnh Thu H là “Quỳnh Hương” với nội dung mua 04 gói “Cỏ” thì H đồng ý (do trước đó B1 và H đã nói chuyện với nhau về việc mua “Cỏ” của H để sử dụng, H gửi vị trí, địa chỉ của H cho B1). Sau đó, B1 gọi qua ứng dụng M3 đến tài khoản của M2 để nói chuyện với M về việc cầm cố điện thoại được 1.000.000 đồng, thì M nói B1 lấy 450.000.000 đồng tiền mặt để mua “Cỏ”, còn 550.000 đồng chuyển vào tài khoản của M2 cho M để có việc khác. B1 nhờ anh L chuyển tiền vào tài khoản của M2 cho M, sau đó lấy 450.000 đồng tiền mặt. B1 đến cây xăng L1 đổ 50.000 đồng tiền xăng, số tiền 400.000 đồng còn lại B1 đi đến chỗ ở của Trịnh Thu H ở thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa gặp H mua 04 gói “Cỏ” với giá 400.000 đồng.

Sau khi mua được ma túy, B1 đi về nhà M2, gặp M và M2, B1 đưa cho M 04 túi ma túy. Sau đó cả bọn đi vào phòng ngủ của M2 sử dụng ma túy bằng cách vón các sợi cỏ thành từng cục nhỏ, sử dụng điếu cày, bật lửa có sẵn ở nhà M2, đốt cỏ rồi hít vào cơ thể. Đến 17 giờ cùng ngày, Trịnh Đình H2, sinh năm 2001 ở thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa đến nhà M2 chơi, thấy các đối tượng đang sử dụng ma túy nên H2 cũng tự ý lấy sử dụng cùng. Đến 18 giờ cùng ngày, B1 lấy 01 túi ma túy đi về nhà mình ở thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, còn M2, M, H2 vẫn tiếp tục ở lại M2 sử dụng ma túy và ngủ tại nhà M2. B1 mang túi ma túy về, đến đêm B1 tự lấy một ít ra sử dụng. Đến 7 giờ 30 phút ngày 23/4/2024, B1 mang túi ma túy còn lại đến nhà M2 và tiếp tục cùng với M2, M, H2 sử dụng. Trong quá trình sử dụng ma túy, B1 đã mời H2 sử dụng một lần. Đến 11 giờ ngày 23/4/2024, khi M, M2, B1 và H2 đang sử dụng ma túy tại phòng ngủ nhà M2 thì bị Công an xã Đ phối hợp với Công an huyện Y kiểm tra và bắt quả tang, thu giữ: 03 túi nilon màu trắng viền đỏ bên trong bám dính các sợi lá cây (thảo mộc) thái nhỏ màu nâu tại nền nhà cạnh giường các đối tượng đang ngồi (được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1); 01 điếu cày dài 65cm, đường kính 4,3cm, nỏ điếu bằng kim loại tại nền phòng ngủ; 01 bật lửa ga màu xanh đã qua sử dụng; trên nền nhà phòng ngủ xung quanh giường phát hiện nhiều sợi thảo mộc đã cháy dở (được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2); 01 đèn nháy nhiều màu sắc nhãn hiệu RHD 2020/9 tại thời điểm kiểm tra đèn đang cắm điện và nháy sáng đặt trên tủ gỗ trong phòng ngủ. Khi bị kiểm tra, H2 đã lấy túi “Cỏ” còn lại giấu vào người nhưng sau đó đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra (được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3). Vũ Văn M2 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen bên trong lắp sim số 0984.090.300.

Cùng ngày, Trịnh Thu H đến Công an huyện Y đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xanh rêu đã qua sử dụng bên trong lắp sim số thuê bao 0865.194.645; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim số thuê bao 0963.323.953.

Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn M2 nhưng không thu giữ gì.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Thu H thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, nhãn hiệu Yumy dạng túi zip bên trong chứa các sợi thảo mộc màu nâu vàng; 03 túi nilon màu trắng viền đỏ dạng túi zip bên trong đều chứa các sợi thảo mộc màu nâu vàng. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Hương”. Số ma túy “cỏ” này H khai cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.

Ngày 24/4/2024, anh Vũ Thanh L giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim số thuê bao 0845.833.861 của Vũ Văn M4.

Tại bản Kết luận giám định số 3109/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của V - Bộ C, kết luận:

  • - Đều tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu thảo mộc khô được niêm phong trong các phong bì ký hiệu M1, M2, M3 và “H” gửi giám định.
  • - Khối lượng sợi thảo mộc khô trong các mẫu ký hiệu M2, M3 và “Hương” lần lượt là: 0,567 gam; 0,942 gam và 11,239 gam.
  • - Hàm lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu ký hiệu M3 và “H” lần lượt 0,4% và 0,4%.
  • - Không xác định được khối lượng mẫu và hàm lượng chất ma túy MDMB - 4en – PINACA trong mẫu ký hiệu M1.
  • - Lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu ký hiệu M2 rất nhỏ (lượng vết), dưới giới hạn định lượng của phương pháp nên không xác định được hàm lượng chất ma túy này có trong mẫu.
  • - Đều tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 04 mẫu chất lỏng màu vàng được niêm phong gửi giám định.

Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Văn M, Vũ Văn M2, Ngô Văn B1 và Trịnh Thu H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng của vụ án: Các vật chứng thu giữ khi bắt quả tang, khám xét và các bị cáo giao nộp gồm: 04 điện thoại di động; 01 điếu cày; 01 bật lửa ga; 01 đèn nháy; các sợi thảo mộc đã cháy dở thu được trên nền nhà; 04 túi nilon màu trắng viền đỏ bên trong bám dính các sợi thảo mộc thu giữ khi bắt quả tang; 04 túi nilon màu trắng dạng túi zip bên trong đều chứa các sợi thảo mộc màu nâu vàng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của H. Đối với các vật chứng là các túi nilon và các sợi thảo mộc thu giữ được, sau khi giám định xong đang được niêm phong trong phong bì mặt trước có ghi “3109/KL-KTHS”, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Hoàng Thế T1, Hà Huy H3 và các hình dấu đỏ của V - Bộ C. Đối với số tiền 400.000 đồng có được do bán “Cỏ” cho B1, H đã tiêu sài cá nân hết nên không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngô Văn B1 đã tác động gia đình hoàn trả cho anh Vũ Thanh L số tiền đã cầm cố điện thoại là 1.000.000 đồng. Anh L không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về nguồn gốc số ma túy, Trịnh Thu H khai số ma túy bán cho Ngô Văn B1 là H mua của một người trên Facebook có tên “Tobaco Chill” không rõ tên tuổi, địa chỉ. Sau khi mua xong, H đã xóa liên lạc với người này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Trịnh Đình H2 không tham gia vào việc tổ chức sử dụng ma túy với các bị cáo nên không phải là đồng phạm trong vụ án. Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với chiếc xe mô tô B1 sử dụng để đi mua ma túy, B1 mượn của chị Phạm Thu T2, sinh năm 2006 ở thôn A xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, xe thuộc sở hữu của ông Phạm Văn H4 (bố đẻ chị T2), sau khi mua ma túy, chiều cùng ngày B1 đã trả xe cho chị T2, cả ông H4 và chị T2 không biết mục đích sử dụng xe của B1 nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKSYĐ ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định: Truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M và Vũ Văn M2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Ngô Văn B1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Trịnh Thu H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn M và Vũ Văn M2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ngô Văn B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trịnh Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định của pháp luật để xử phạt như sau:
  • Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/4/2024.
  • Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn M2 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/4/2024.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn B1 từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/4/2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Thu H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/4/2024.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone XS Max, 01 điện thoại Iphone 11 Pro, 01 điện thoại Iphone 7 Plus. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: Các túi nilon và số ma túy hoàn lại sau giám định xong được niêm phong trong 01 phong bì, 01 điếu cày, 01 bật lửa ga, 01 đèn nháy và 03 sim điện thoại gắn trong 03 điện thoại nêu trên. Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại Nokia 1280 bên trong có lắp sim số thuê bao 0963.323.953. Truy thu của bị cáo Trịnh Thu H số tiền 400.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
  • Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn B1 phát biểu quan điểm tranh luận: Viện kiểm sát truy tố bị cáo Ngô Văn B1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đề nghị HĐXX xem xét các yếu tố sau để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: Về nhận thức: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện hoàn trả số tiền 1.000.000 đồng cho anh Vũ Thanh L và bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng, gia đình bị cáo đã tích cực ủng hộ vật chất cho quỹ vì người nghèo tại địa phương, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 3, Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm đến 05 năm 03 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo B1.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn M, Vũ Văn M2, Ngô Văn B1 và Trịnh Thu H hoàn toàn thừa nhận:

Trong khoảng thời gian từ 17 giờ 00 phút ngày 22/4/2024 đến 11 giờ 00 ngày 23/4/2024, Nguyễn Văn M, Vũ Văn M2 và Ngô Văn B1 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho bản thân và cho Trịnh Đình H2 sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của gia đình Vũ Văn M2 ở thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa thì bị Công an huyện Y bắt quả tang.

Trịnh Thu H đã có hành vi bán ma túy cho Ngô Văn B1 nhằm kiếm lời. Ngoài ra, Trịnh Thu H còn cất giấu 11,230 gam “Cỏ” có hàm lượng ma túy 0,4% nhằm mục đích bán kiếm lời.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết quả giám định ma túy cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại thời điểm phạm tội, các bị cáo đều có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo M, M2 và B1 tổ chức cho bản thân và 02 bị cáo còn lại cùng với Trịnh Đình H2 sử dụng trái phép chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Ngô Văn B1 mới 17 tuổi 11 tháng 14 ngày tuổi (trong độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi). Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Nguyễn Văn M và Vũ Văn M2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự với 02 tình tiết định khung hình phạt là “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”. Bị cáo Ngô Văn B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự với 01 tình tiết định khung hình phạt là “Đối với 02 người trở lên”. Bị cáo Trịnh Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo các tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quan hệ pháp luật xâm phạm, tính chất của đồng phạm và vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và các tệ nạn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, mới có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng chống tội phạm về ma tuý đang diễn ra hết sức phức tạp trên địa bàn hiện nay.

Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, các bị cáo M, M2 và B1 cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên là đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo M là người khởi xướng, đưa điện thoại cho B1 cầm cố lấy tiền mua ma túy nên có vai trò thứ nhất; bị cáo B1 đi mua ma túy về cho mọi người sử dụng, bị cáo M2 cho các bị cáo sử dụng địa điểm do mình quản lý, cung cấp công cụ như điều cày, bật lửa để cho các bị cáo sử dụng ma túy nên cùng có vai trò thứ hai.

Bị cáo Trịnh Thu H thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy độc lập, nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mình.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Nguyễn Văn M, Ngô Văn B1 và Trịnh Thu H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Vũ Văn M2 phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Ngô Văn B1 đã tự nguyện hoàn trả tiền cắm điện thoại cho anh Vũ Thanh L và có ông nội là người có công với cách mạng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Trịnh Thu H sau khi phạm tội đã ra đầu thú và có ông nội là người có công với cách mạng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản thân các bị cáo nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để trừng trị và cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các bị cáo M, M2, B1 không phải là đối tượng nghiện ma túy, cũng không thu được lợi ích vật chất nào từ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà nhất thời thực hiện hành vi, để quyết định mức hình phạt cho phù hợp. Đồng thời, cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của từng bị cáo trong vụ án để cá thể hóa hình phạt. Đối với bị cáo B1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nên cần áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi để quyết định mức hình phạt phù hợp. Đối với bị cáo H cần xem xét bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề tự do, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với các túi nilon và số ma túy là các sợi thảo mộc hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với các vật chứng gồm điếu cày, bật lửa, đèn nháy là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo M2, M và H gồm: 01 điện thoại Iphone XS Max, 01 điện thoại ệu Iphone 11 Pro và 01 điện thoại Iphone 7 Plus: Đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước. Đối với 03 sim lắp bên trong các điện thoại này thì tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với chiếc điện thoại N2 1280 thu giữ của bị cáo H không liên quan đế việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo H.
  • - Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo H có được từ việc bán ma túy là tiền do phạm tội mà có nên truy thu nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Ngô Văn B1 đã tự nguyện hoàn trả cho anh Vũ Thanh L số tiền đã nhận khi cầm cố điện thoại là 1.000.000 đồng. Anh L không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[9] Về vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Đối với Trịnh Đình H2 không tham gia vào việc tổ chức sử dụng ma túy với các bị cáo nên không phải là đồng phạm trong vụ án. Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

  • - Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M và Vũ Văn M2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Ngô Văn B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trịnh Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/4/2024.
  • - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Vũ Văn M2 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/4/2024.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Ngô Văn B1 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/4/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Trịnh Thu H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/4/2024.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước các vật chứng gồm:
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Vũ Văn M2.
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xanh rêu đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Trịnh Thu H.
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn M.
  • - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
    • + Các túi nilon và số ma túy là các sợi thảo mộc hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có ghi “3109/KL-KTHS”, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Hoàng Thế T1, Hà Huy H3 và các hình dấu đỏ của V - Bộ C.
    • + 01 điếu cày dài 65cm, đường kính 4,3cm, nỏ điếu bằng kim loại.
    • + 01 bật lửa ga màu xanh đã qua sử dụng.
    • + 01 đèn nháy nhiều màu sắc nhãn hiệu RHD 2020/9 đã qua sử dụng.
    • + 03 sim gắn bên trong 03 chiếc điện thoại nêu trên, gồm các số thuê bao: 0984.090.300, 0865.194.645, 0845.833.861.
  • - Tuyên trả lại cho bị cáo Trịnh Thu H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng, bên trong có lắp sim số thuê bao 0963.323.953.
  • Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK 03 ngày 04/10/2024.

  • - Truy thu của bị cáo Trịnh Thu H số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí: Căn điểm khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M, Vũ Văn M2, Ngô Văn B1 và Trịnh Thu H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Công an huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 86/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử Nguyễn Văn M và đồng phạm phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger