|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 86/2024/DS-ST Ngày: 30 tháng 8 năm 2024 V/v: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hồng Hải
Ông Trần Trung Nam
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tráng- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2024 về “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh V, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số B đường M, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1995; Địa chỉ: số B T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Theo Giấy ủy quyền ngày 28/02/2024 tại Văn phòng C). (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số H đường P, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Công T trình bày:
Bà Trần Thị Thanh V và bà Nguyễn Thị H là chị em họ hàng (con cô cậu). Từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022, bà H có mượn của bà V nhiều lần với tổng số tiền gốc là 7.400.000.000 đồng. Bà H tự nguyện trả lãi suất cho bà V là 0,25%/ngày; các bên không có tranh chấp về lãi suất. Đến tháng 12 năm 2022, bà H không tiếp tục trả lãi cho bà V. Nhận thấy bà H có dấu hiệu không trả nợ nên bà V nhiều lần yêu cầu bà H hoàn trả nợ gốc nhưng bà H không thanh toán.
Khoảng đầu năm 2023, bà H ký Giấy mượn tiền xác nhận khoản nợ nêu trên và cam kết bắt đầu từ tháng 4 năm 2023 sẽ thanh toán cho bà V mỗi tháng khoảng từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Nhưng thực tế, từ khi ký giấy xác nhận nợ đến nay, bà H không thanh toán cho bà V bất kỳ khoản tiền nào.
Vì vậy, bà Trần Thị Thanh V khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H thanh toán cho bà V số tiền nợ gốc là 7.400.000.000 đồng (Bảy tỷ bốn trăm triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.
Tuy nhiên, đến nay bà Trần Thị Thanh V không nhớ bà Nguyễn Thị H đã thanh toán được cho bà V bao nhiêu tiền lãi, chỉ nhớ mức lãi suất các bên thỏa thuận là 0,25%/ngày. Theo bà V được biết, số tiền lãi vượt quá 20%/năm phải được trừ vào nợ gốc tại thời điểm trả lãi. Sau sau khi cấn trừ tiền lãi bà H trả thừa (tiền lãi vượt quá 20%/năm) vào nợ gốc, bà V xác định bà Nguyễn Thị H còn nợ của V số tiền là: 2.664.468.632 đồng.
Do đó, bà V thay đổi yêu cầu khởi kiện (rút 4.735.531.368 đồng), chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H phải thanh toán cho bà V số tiền nợ gốc là 2.664.468.632 đồng (Hai tỷ, sáu trăm sáu mươi bốn triệu, bốn trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng).
Bị đơn bà Nguyễn Thị H, mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê:
- Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án. Đương sự đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên hòa giải, không có ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án là không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 280 và Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 9 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 2.664.468.632 đồng (Hai tỷ, sáu trăm sáu mươi bốn triệu, bốn trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh V về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền với bị đơn bà Nguyễn Thị H là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đồng thời bị đơn cư trú tại phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (đăng trên báo Nhân dân C1 số liên tiếp vào các ngày 11, 12, 13 tháng 05 năm 2024, phát sóng trên Trung tâm T2V8) 03 lần vào lúc 06h50 trong 03 ngày liên tiếp là ngày 11, 12, 13 tháng 05 năm 2024 và đăng trên Cổng Thông tin điện tử của Tòa án. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Căn cứ Giấy mượn tiền không đề ngày tháng năm viết tay trích từ vở học sinh do nguyên đơn là bà Trần Thị Thanh V cung cấp thì giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ vay mượn tiền với nhau. Theo đó, từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022, bà Nguyễn Thị H có mượn của bà V số tiền gốc là 7.400.000.000 đồng với lãi suất là 0,25% (2.500 đồng/1.000.000 đồng/1ngày). Bà H đã trả cho bà V tiền lãi đến tháng 11 năm 2022 và cam kết bắt đầu từ tháng 4 năm 2023 sẽ thanh toán cho bà V mỗi tháng khoảng từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Nhưng từ đó đến nay, bà H không thanh toán cho bà V bất kỳ khoản tiền nào nên bà V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H thanh toán cho bà V số tiền nợ gốc là 7.400.000.000 đồng. Bà V không nhớ cụ thể số tiền lãi bà H đã thanh toán nhưng chấp nhận số tiền lãi vượt quá 20%/năm sẽ được trừ vào nợ gốc tại thời điểm trả lãi theo quy định của pháp luật nên sau khi cấn trừ, bà V xác định bà Nguyễn Thị H còn nợ của V số tiền là 2.664.468.632 đồng. Do đó, bà V thay đổi yêu cầu khởi kiện (rút 4.735.531.368 đồng), chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H phải thanh toán cho bà V số tiền nợ gốc là 2.664.468.632 đồng.
Xét số tiền lãi suất hàng tháng bà H đã trả cho bà V theo mức 2.500 đồng/1.000.000/01 ngày đối với số tiền 7.400.000.000 đồng, từ khi vay đến tháng 11/202022, HĐXX thấy rằng:
Căn cứ khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, lãi suất hàng tháng bà H đã trả cho bà V là 90%/năm đã vượt quá mức lãi suất pháp luật quy định.
Theo quy định tại Điều 9 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao thì mức lãi suất vượt quá mức lãi suất được pháp luật quy định không có hiệu lực, số tiền lãi đã trả vượt quá quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi.
HĐXX tính mức lãi suất theo quy định bằng 20%/năm theo khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, phần lãi suất vượt quá 20% đã trả được trừ vào nợ gốc. Căn cứ giấy mượn tiền và lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định trả lãi hàng tháng nên Tòa án tính lãi suất đã trả theo tháng, số tiền lãi vượt quá hàng tháng đã trả trừ vào số tiền gốc. Cụ thể như sau:
Tiền lãi tháng 01/2022 (31 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 573.500.000 đồng, lãi suất theo quy định là 125.698.630 đồng, lãi suất vượt quá là 447.801.370 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 6.952.198.630 đồng.
Tiền lãi tháng 02/2022 (28 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 518.000.000 đồng, lãi suất theo quy định trên gốc còn nợ 6.952.198.630 đồng là 106.663.869 đồng, lãi suất vượt quá là 411.336.131 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 6.540.862.500 đồng.
Tiền lãi tháng 03/2022 (31 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 573.500.000 đồng, lãi suất theo quy định trên gốc còn nợ 6.540.862.500 đồng là 111,105,062 đồng, lãi suất vượt quá là 462.394.938 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 6.078.467.561 đồng.
Tiền lãi tháng 04/2022 (30 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 555.000.000 đồng, lãi suất theo quy định trên gốc còn nợ 6.078.467.561 đồng là 99.920.015 đồng, lãi suất vượt quá là 455.079.985 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 5.623.387.576 đồng.
Tiền lãi tháng 05/2022 (31 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 573.500.000 đồng, lãi suất theo quy định trên gốc còn nợ 5.623.387.576 đồng là
95.520.556 đồng, lãi suất vượt quá là 477.979.444 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 5.145.408.132 đồng.
Tiền lãi tháng 06/2022 (30 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 555,000,000 đồng, lãi suất theo quy định trên gốc còn nợ 5.145.408.132 đồng là 84.582.051 đồng, lãi suất vượt quá là 470.417.949 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 4.674.990.183 đồng.
Tiền lãi tháng 07/2022 (31 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 573.500.000 đồng, lãi suất theo quy định trên gốc còn nợ 4.674.990.183 đồng là 79.410.792 đồng, lãi suất vượt quá là 494.089.208 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 4.180.900.976 đồng.
Tiền lãi tháng 08/2022 (31 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 573,500,000 đồng, lãi suất theo quy định trên gốc còn nợ 4.180.900.976 đồng là 71.018.044 đồng, lãi suất vượt quá là 502.481.956 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 3.678.419.020 đồng.
Tiền lãi tháng 09/2022 (30 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 555,000,000 đồng, lãi suất theo quy định trên gốc còn nợ 3.678.419.020 đồng là 60.467.162 đồng, lãi suất vượt quá là 494.532.838 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 3.183.886.182 đồng.
Tiền lãi tháng 10/2022 (31 ngày), bà H đã trả (2.500 đồng/1.000.000.000/1ngày) trên nợ gốc 7.400.000.000 đồng bằng số tiền là 573.500.000 đồng, lãi suất theo quy định trên gốc còn nợ 3.183.886.182 đồng là 54.082.450 đồng, lãi suất vượt quá là 519.417.550 đồng; đối trừ tiền lãi suất vượt quá, tiền gốc còn nợ là 2.664.468.632 đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả số tiền 2.664.468.632 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Bị đơn là bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh V trong thông báo thụ lý và nội dung những vấn đề hòa giải nhưng đã không có ý kiến, cũng như không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Thanh V số tiền 2.664.468.632 đồng theo quy định tại Điều 280 của Bộ luật Dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Trần Thị Thanh V không yêu cầu tính lãi nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Bà Nguyễn Thị H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
[3] Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 85.289.372 đồng.
Hoàn trả cho bà Trần Thị Thanh V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 280 và Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Điều 9 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Thanh V đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị H.
Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Trần Thị Thanh V số tiền 2.664.468.632 đồng (Hai tỷ, sáu trăm sáu mươi bốn triệu, bốn trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 85.289.372 đồng (T1 mươi lăm triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, ba trăm bảy mươi hai đồng).
Hoàn trả lại cho bà Trần Thị Thanh V số tiền 57.700.000 đồng (Năm mươi bảy triệu, bảy trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí DS-ST đã nộp theo biên lai thu số 0001232 ngày 23 tháng 2 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng bị đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều Điều 06, 07, 07a và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thủy |
Bản án số 86/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Số bản án: 86/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H phải thanh toán cho bà V số tiền nợ gốc là 2.664.468.632 đồng
