TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2024. V/v tranh chấp về ly hôn và con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Ánh Nhạn;
- Ông Nguyễn Văn Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Ngô Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2024/TLST-HN ngày 22 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thảo Q, sinh năm: 2000. Địa chỉ: Khóm C, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Tạm trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 7 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thảo Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, Tây Ninh ngày 10/3/2020. Anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng thường bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ nhau nhiều lần, ngoài ra, anh L có quen biết với người phụ nữ khác nên cùng thời gian đó chị bỏ về nhà ba mẹ ruột chị sống và ly thân với anh C cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai anh chị cũng không gặp nhau hòa giải hàn gắn gia đình được. Nên nay nhận thấy không thể sống chung được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Chí C.
Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung tên Nguyễn Chí K, sinh ngày 17/8/2020, hiện tại con chung đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Đối với bị đơn – anh Nguyễn Chí C:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh C không đến để trình bày theo yêu cầu của Tòa án cũng như không tham dự phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử mặc dù qua xác minh, chính quyền địa phương cung cấp anh vẫn còn hộ khẩu ở địa phương nhưng cố tình vắng mặt không lý do. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên Tòa trình bày:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thảo Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Nguyễn Chí C đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Q, anh C là đúng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thảo Q, cho chị Q được ly hôn với anh Nguyễn Chí C. Về con chung: Áp dụng Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 giao 01 con chung tên Nguyễn Chí K, sinh ngày 17/8/2020 cho chị Q tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị Q không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Chị Q trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 chị Q phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thảo Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Chí C được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Q, anh C theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thảo Q và anh Nguyễn Chí C trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, Tây Ninh ngày 10/3/2020 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Theo đơn khởi kiện chị Q trình bày mâu thuẫn phát sinh là do vợ chồng thường bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ nhau nhiều lần, ngoài ra, anh L có quen biết với người phụ nữ khác nên khoảng tháng 10/2020 chị bỏ về nhà ba mẹ ruột chị sống và ly thân với anh C cho đến nay. Từ ngày ly thân đến nay, cả hai cũng không hòa giải, hàn gắn gia đình được. Mặt khác, anh C không chấp hành theo giấy triệu tập của tòa án, cố tình vắng mặt không đến, điều đó chứng tỏ anh không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Q. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Q, chị Q được ly hôn với anh C là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thảo Q và anh Nguyễn Chí C có 01 con chung tên Nguyễn Chí K, sinh ngày 17/8/2020, hiện tại con chung đang sống với chị Q. Khi ly hôn, chị Q yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại cháu K đang sống chung với chị Q, từ ngày ly thân cho đến nay chị Q vẫn nuôi con tốt. Do vậy, cần giao cháu K cho chị Q tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, chị Q không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung do vậy nên ghi nhận.
Anh Nguyễn Chí C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thảo Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thảo Q trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thảo Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thảo Q với anh Nguyễn Chí C.
Chị Nguyễn Thảo Q được ly hôn với anh Nguyễn Chí C.
- Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Chí K, sinh ngày 17/8/2020 cho chị Nguyễn Thảo Q tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn Chí C không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Q không yêu cầu.
Anh Nguyễn Chí C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thảo Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thảo Q trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thảo Q phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị Q đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0013688 ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn Thảo Q đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm
Anh Nguyễn Chí C không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Chị Q, anh C có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Vân |
Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về ly hôn và con chung
- Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
