Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CON CUÔNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29 - 5 - 2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lộc Văn Việt, bà Phạm Thị Anh.

Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng – Thư ký Tòa án huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/QÐST-HNGĐ ngày 06/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1972.

Bị đơn: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1972.

Đều có địa chỉ: Thôn Khe Choăng, xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Chị N vắng mặt có lý do; Anh K vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 27/02/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Phạm Văn K kết hôn với nhau vào năm 1993, nhưng đến năm 1998 vợ chồng mâu thuẩn dẫn đến ly hôn. Tuy nhiên tháng 02 năm 2000 chị và anh K lại trở lại sống chung với nhau và đến ngày 16 tháng 6 năm 2004 chị và anh K tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Việc chị và anh K kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị và anh K sống với hạnh phúc được một thời gian ngắn, đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị đi làm ăn xa, anh K ở nhà sống với gười phụ nữ khác. Mặc dù chị và gia đình nội ngoại hòa giải nhưng không thành. Chị và anh K ly thân từ cuối năm 2007 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn K;

- Con chung: Chị và anh Phạm Văn K có 02 con chung là Phạm Anh T, sinh ngày 05/02/1994 và Phạm Anh T, sinh ngày 09/12/2005. Hiện nay các con đã đủ tuổi, trưởng thành, việc ở với bố hay mẹ do các con quyết định.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ: Chị và anh Phạm Văn K không nợ cá nhân, tổ chức nào và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh Phạm Văn K nhiều lần, nhưng anh K không có mặt vì vậy Tòa án đã niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các thủ tục tố tụng liên quan đến vụ án tại Nhà văn hóa thôn K C và UBND xã C K để anh Phạm Văn K biết và thực hiện quyền và N vụ của mình. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm anh Phạm Văn K vắng mặt và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Phạm Văn K, về tài sản và nợ chị N không yêu cầu nên không xem xét, chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] . Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn hiện cư trú tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập bị đơn nhiều lần hợp lệ đến các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như phiên toà nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Bị đơn vắng mặt phiên toà lần thứ 2 không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Xét thấy chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn K đăng ký kết hôn vào ngày 18/6/2004 tại UBND xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, việc chị N và anh K kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn K là hợp pháp.

Quá trình chung sống do các bên không biết yêu thương, tôn trọng lấn nhau, anh K không quan tâm đến vợ con và gia đình. Theo chị N việc vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả và vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2007 đến nay. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn K thật sự không còn với nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N là có căn cứ.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn K có 02 con chung là Phạm Anh T, sinh ngày 05/02/1994 và Phạm Anh T, sinh ngày 09/12/2005. Hiện nay các con đã đủ tuổi, trưởng thành, việc ở với bố hay mẹ do các cháu quyết định nên Tòa không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét và hiện nay chị không nợ một tổ chức hay cá nhân nào. Nếu sau nay anh Phạm Văn K có khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Phạm Văn K.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000588 ngày 08/3/2024. Chị N đã nộp đủ án phí ly hôn.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • – TAND tỉnh NA;
  • – VKSND huyện Con Cuông;
  • – Chi cục THADS huyện Con Cuông;
  • – Nguyên đơn, bị đơn;
  • – UBND xã C K;
  • – Lưu hồ sơ -VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Văn Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị N đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger