Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:86/2023/HS-ST

Ngày: 28-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Minh,

Ông Lê Văn Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Cúc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Đoàn Văn N, sinh ngày 10/01/1975, nơi cư trú: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Đ và bà Vũ Thị T (đều đã chết); bị cáo có vợ là Hoàng Thị T1, sinh năm 1978 và có 02 con, con lớn sinh năm 1997 và con nhỏ sinh năm 2003; tiền án: tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/9/2023, đến ngày 16/9/2023 chuyển tạm giam; tại phiên tòa bị cáo có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Phạm Đức T2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 07/9/2023, Đoàn Văn N đi bộ từ nhà ở xóm D, xã X, huyện X đến khu vực tổ E, thị trấn X, huyện X để tìm mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Đến nơi, N gặp một nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi biết người này có ma tuý bán, N hỏi mua 200.000 đồng Heroine, nam thanh niên đồng ý, nhận tiền rồi đưa lại cho N 02 gói nhỏ (01 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng, 01 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng), bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. N xác định là H, cất vào túi quần bên phải rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi N đang đi trên đường thuộc thôn H, xã X thì bị Tổ công tác Công an xã X đang làm nhiệm vụ phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. N tự giác giao nộp cho Tổ công tác 02 gói nhỏ vừa mua được và khai là Heroine. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 02 gói nhỏ N nộp ký hiệu là M. Sau đó, Tổ công tác đã bàn giao N cùng toàn bộ tài liệu, vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện X để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Văn N nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết quả xét nghiệm định tính Morphin ngày 07/9/2023 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Đoàn Văn N dương tính với M.

Theo Kết luận giám định số 1394/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói (giấy bạc màu trắng và màu vàng), trong phong bì được niêm phong ký hiệu là M gửi giám định là ma túy, loại ma túy: Heroine; tổng khối lượng: 0,129 gam.

Cáo trạng số 81/CT-VKS, ngày 02/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Đoàn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi như đã nêu trong Cáo trạng.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh và hình phạt:

  • - Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • - Xử phạt Đoàn Văn N từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 năm tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy số Heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1394/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N. (M: 0,103 gam Herone).

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc kết tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số Heroine thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ ngày 07/9/2023, tại thôn H, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Đoàn Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,129 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo Đoàn Văn N cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra phiên tòa ngày hôm nay là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuy” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đầy đủ về tác hại, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội về ma túy nên cần phải xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật thì mới tác dụng đấu tranh và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những phân tích trên, xét thấy cần phải cách ly bị cao ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghiện ma tuý nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Số H đã thu giữ là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.

[8] Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho N, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể ngoài ra không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
    • - Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
    • - Xử phạt bị cáo Đoàn Văn N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu hủy số Heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1394/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N. (M: 0,103 gam Herone).
    • (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 11/CCTHA ngày 03/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
    • Buộc bị cáo Đoàn Văn N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Xuân Trường;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Trường;
  • - Công an huyện Xuân Trường;
  • - UBND xã Xuân Vinh;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 86/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger