TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
Bản án số: 86/2024/HS-ST
Ngày 26-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và ông Lê Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Mai Lê Thục Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa:
Ông Cao Tấn Tiền – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Ngọc L, sinh ngày 24/7/1987 tại tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Ngọc L1, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1954; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 08/5/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a, i khoản 1, khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 152/2014/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2017, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm.
Nhân thân: Ngày 16/6/2004, bị Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Phú Yên áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng về hành vi nhiều lần đánh nhau, trộm cắp tài sản; Ngày 20/11/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
1. Anh Phú Văn L2, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
2. Anh Đoàn Minh Q, sinh năm 2001; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Xuân L3, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ H, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên toà.
Người làm chứng:
1. Anh Trần Văn P, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
2. Anh Phạm T, sinh năm 1992; Địa chỉ: B T, Phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
3. Anh Đinh Hùng M, sinh năm 1992; Địa chỉ: thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/3/2024, bị cáo Dương Ngọc L đi bộ đến khu vực Cảng cá Đông tác thuộc khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên, phát hiện xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh, biển số 78H9-3736 của anh Phú Văn L2 có gắn chìa khóa trên xe nhưng không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Bị cáo lén đi đến lấy xe môtô, biển số 78H9-3736 điều khiển xe đi về hướng cầu H. Trên đường đi, bị cáo nhìn thấy xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển số 78G1-425.34 của anh Đoàn Minh Q đang dựng trên bờ kè phía Nam sông Đ, thuộc phường P, thành phố T không có người trông coi nên tiếp tục nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Bị cáo dựng xe môtô, biển số 78H9-3736 trên đường rồi đi đến lấy mũ bảo hiểm đang móc trên ba ga xe anh Đoàn Minh Q, dùng tay nâng yên lên lấy trong cốp xe một ví da màu nâu và một điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung J7 Pro của anh Đoàn Minh Q. Bị cáo mở ví lấy số tiền 102.000 đồng rồi bỏ ví vào lại trong cốp xe. Sau đó, bị cáo điều khiển xe môtô, biển số 78H9-3736 đi đến phía Nam cầu H đón anh Nguyễn Xuân L3 đang đứng đợi bị cáo dưới chân cầu để cùng đi ăn tối. Khi gặp anh Nguyễn Xuân L3, bị cáo lấy tiền và điện thoại đưa anh Nguyễn Xuân L3 cầm giữ giúp thì bị Tổ tuần tra của Công an thành phố T phát hiện, đưa về trụ sở Công an phường P làm việc, bị cáo khai nhận đã trộm cắp các tài sản trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: Xe môtô nhãn hiệu Yamaha, màu xanh, biển số 78H9-3736 trị giá 3.950.000 đồng và điện thoại di động S1 J7 Pro trị giá 475.000 đồng.
Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo Dương Ngọc L thành khẩn khai báo, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phú Văn L2, anh Đoàn Minh Q đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về vật chứng, đồ vật tạm giữ: Đã trả lại cho chủ sở hữu xe môtô biển số 78H9-3736; 01 điện thoại di động S1; 01 mũ bảo hiểm màu đen và số tiền 102.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKSTH ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Dương Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Dương Ngọc L và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2024. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phú Văn L2, anh Đoàn Minh Q đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét. Về vật chứng, đồ vật tạm giữ: Đã trả lại cho chủ sở hữu 01 (Một) xe môtô biển số 78H9-3736; 01 (Một) điện thoại di động S1 J7 Pro; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu đen và số tiền 102.000 đồng nên không xem xét.
Bị cáo Dương Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại anh Phú Văn L2, anh Đoàn Minh Q thống nhất trình bày: Đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/3/2024 tại phường P, thành phố T, bị cáo Dương Ngọc L đã có hành vi lén lút lấy trộm xe môtô, biển số 78H9-3736 trị giá 3.950.000 đồng của anh Phú Văn L2; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Pro trị giá 475.000 đồng và số tiền 102.000 đồng của anh Đoàn Minh Q, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.527.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 89/CT-VKSTH ngày 08/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có một tiền án và nhân thân xấu nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Dương Ngọc L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã từng bị kết án, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Đối với anh Nguyễn Xuân L3 không bàn bạc, không tham gia trộm cắp tài sản cùng với bị cáo Dương Ngọc L, khi bị cáo nhờ cầm giữ giúp tiền và điện thoại không biết tài sản do phạm tội mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Xuân L3 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng vụ án: Đã trả lại cho chủ sở hữu 01 (Một) xe môtô biển số 78H9-3736 của anh Phú Văn L2; 01 (Một) điện thoại di động S1 J7 Pro; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu đen và số tiền 102.000 đồng của anh Đoàn Minh Q nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Dương Ngọc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Dương Ngọc L 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2024.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Bị cáo Dương Ngọc L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Vân |
5
6
Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 86/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Ngọc Lưu
