Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HS-PT

Ngày: 26/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Chuyển
  • Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Anh Tuấn
  • Ông Trần Hữu Vinh
  • Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Trần Quốc L, do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo:

TRẦN QUỐC L, sinh ngày 03/5/1979 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: K Ông Í, tổ A, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân T và bà Nguyễn Thị L1 (đều còn sống); Có vợ là Lưu Thị Lan P và 02 con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc L: Luật sư Huỳnh Phan Thiên P1 - Công ty L4, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ; Có mặt.

* Bị hại: Ông Nguyễn Hữu L2, sinh năm 1957; Nơi cư trú: 123 T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; (đã chết)

* Người đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn kháng cáo gồm:

1/ Bà Trần Thị B, sinh năm 1974; Nơi cư trú: 123 T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.

2/ Bà Nguyễn Thục Huyền T1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: C đường số A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.

3/ Bà Nguyễn Thục Thiên A, sinh năm 1992; Nơi cư trú: G P, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị B và bà Nguyễn Thục Huyền T1: Bà Nguyễn Thục Thiên A, sinh năm 1992; Nơi cư trú: G P, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị B và bà Nguyễn Thục Huyền T1: Luật sư Dương Kim H - VPLS K, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h20' ngày 31/8/2022, Trần Quốc L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lear, BKS: 75R1-3579 chở vợ là bà Lưu Thị Lan P lưu thông trên đường T. Khi đến khu vực ngã ba đường Ô - T, Trần Quốc L cho xe rẽ trái vào đường Ông Ích K và tiếp tục chạy vào phần đường ngược chiều đường Ông Ích K (theo hướng từ đường T về đường Q) khoảng hơn 10 mét để sang phần đường bên phải. Do lưu lượng xe đông nên Trần Quốc L cho xe chạy chậm với mục đích nhường đường cho các phương tiện đi ngược chiều. Khi phát hiện có ánh đèn của xe chạy thuận chiều lao tới, Trần Quốc L bóp phanh xe và dừng lại trên phần đường ngược chiều tại trước số nhà B Ông Í, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Lúc này, xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Noza, BKS: 43C1-475.01 do ông Nguyễn Hữu L2 điều khiển thuận chiều (hướng ngược chiều với xe của Trần Quốc L). Vì không chú ý quan sát nên xe mô tô do ông Nguyễn Hữu L2 điều khiển đã tông vào phần đầu xe mô tô do Trần Quốc L điều khiển, làm cả hai xe và người ngã xuống đường. Hậu quả, ông Nguyễn Hữu L2 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ đến ngày 01/9/2022 thì chết; Trần Quốc L và bà Lưu Thị Lan P bị thương nhẹ, 02 xe mô tô bị hư hỏng.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn:

  • - Kết quả xét nghiệm của Bệnh viện Đ đối với Trần Quốc L vào lúc 22h05' ngày 31/8/2022, xác định: Nồng độ cồn trong máu của Trần Quốc L là 13.3 mmol/L máu.
  • - Kết quả xét nghiệm của Bệnh viện Đ đối với Nguyễn Hữu L2 vào lúc 22h32' ngày 31/8/2022, xác định: Nồng độ cồn trong máu của ông Nguyễn Hữu L2 là 42.8 mmol/L máu.

Tại Kết luận giám định số: 1367/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, xác định: Dấu vết va chạm, chiều hướng của các dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS: 43C1-475.01 và xe mô tô BKS: 75R1-3579 thì: Các dấu vết va chạm trên 02 xe mô tô và các tài liệu có liên quan gửi giám định: Không có cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô BKS: 43C1-475.01 và xe mô tô BKS: 75R1-3579 trong vụ tai nạn giao thông.

Kết quả định giá tài sản:

  • - Tại Kết luận định giá tài sản số: 124/KL-HDDGTS ngày 26/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận H xác định: Xe mô tô nhân hiệu Yamaha Nozza màu trắng, BKS: 43C1-475.01 bị hư hỏng thiệt hại là 6.853.000 đồng (Sáu triệu, tám trăm năm mươi ba ngàn đồng); Xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ đen, BKS: 75R1-3579 bị hư hỏng thiệt hại là 5.424.000 đồng (Năm triệu, bốn trăm hai mươi bốn ngàn đồng).

Kết quả giám định pháp y:

  • - Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi trên hồ sơ số: 144/GĐHS ngày 12/10/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế - thành phố Đ, kết luận nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Hữu L2 do: Chấn thương sọ não và hàm mặt, phù não nặng, hôn mê sâu, suy hô hấp, trụy tim mạch, ngưng thở, ngưng tim và tử vong.
  • - Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 296/TgT ngày 22/11/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế thành phố Đ, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của bà Lưu Thị Lan P là 05%.
  • - Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 297/TgT ngày 22/11/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế thành phố Đ, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Trần Quốc L là 12%.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc L 03(ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 02/01/2024, đại diện bị hại bà Nguyễn Thục Thiên A, bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thục Huyền T1 cùng có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung vụ án:

Về trách nhiệm hình sự: Các đại diện của bị hại cho rằng mức hình phạt 03 (ba) năm tù và cho bị cáo L được hưởng án treo mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là quá nhẹ, chưa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, chưa có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cho bị cáo, đảm bảo đúng người, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Các đại diện của bị hại cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị hại (ông Nguyễn Hữu L2) cũng có một phần lỗi để xem xét về trách nhiệm dân sự cho bị cáo là không đúng; mức bồi thường thiệt hại đã tuyên là chưa thỏa đáng, chưa xem xét một cách khách quan, toàn diện vụ án, chưa xem xét đầy đủ những tổn thất và mất mát to lớn mà gia đình bị hại phải gánh chịu.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện cho bị hại bà Nguyễn Thục Thiên A và bà Trần Thị B giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tăng hình phạt với bị cáo Trần Quốc L và không cho hưởng án treo, tăng mức bồi thường thiệt hại về dân sự theo hướng không xác định ông L2 có một phần lỗi và phải chịu 10% mức thiệt hại còn bị cáo L chỉ chịu 90% mức thiệt hại mà buộc bị cáo phải bồi thường 100% mức thiệt hại và tăng tiền cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trần Thủy T2 lên 3.500.000 đồng/tháng.

Bị cáo Trần Quốc L thừa nhận về hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu và kết luận; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện bên bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức hình phạt 03(ba) năm tù, được hưởng án treo; đối với yêu cầu tăng thêm mức bồi thường về thiệt hại trong dân sự bị cáo không chấp nhận, tuy nhiên, bị cáo xin tự nguyện hỗ trợ thêm cho bên bị hại số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trong khả năng cho phép; về số tiền buộc cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trần Thủy T2, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của đại diện bị hại có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung kháng cáo của đại diện bị hại: Xét Bản án sơ thẩm số 143/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử bị cáo Trần Quốc L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về quyết định hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đồng thời đã xem xét đầy đủ một cách khách quan toàn diện cũng như diễn biến vụ việc tai nạn xảy ra, xác định về mức độ lỗi, cũng như xem xét về điều kiện hoàn cảnh gia đình và nhân thân của bị cáo, trên cơ sở đó xử phạt bị cáo mức hình phạt 03(ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQHĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo này của đại diện hợp pháp của bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện vụ án, xác định đầy đủ nghĩa vụ trách nhiệm bồi thường về thiệt hại theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về các khoản chi phí hợp lý theo yêu cầu của đại diện bị hại để buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường là đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi quyết định toàn bộ số tiền chi phí hợp lý của bên đại diện bị hại yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị hại (ông L2 đã chết) cũng có một phần lỗi do sử dụng rượu bia vượt quá nồng độ cồn cho phép nên phải chịu 10% để buộc bị cáo bồi thường 90% về giá trị thiệt hại cho gia đình bị hại là không thỏa đáng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận phần kháng cáo này của đại diện bị hại buộc bị cáo phải bồi thường mức 100% là phù hợp. Đối với tiền bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường số tiền 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng) tương ứng 75 tháng lương cơ sở là phù hợp, đối với tiền cấp dưỡng nuôi con cho cháu Nguyễn Trần Thủy T2 (con ông L2) Tòa án sơ thẩm buộc bị cáo có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu T2 (thay cho ông L2 đã chết) mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm ngàn đồng) cũng là phù hợp. Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện bị hại, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự đối với các khoản chi hợp hợp lý để tăng mức bồi thường cho bên bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt, tiền tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng nuôi con.

Luật sư Huỳnh Phan Thiên P1 người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc L (theo yêu cầu của bị cáo) tại phiên tòa phúc thẩm có quan điểm bào chữa như sau: Hoàn toàn thống nhất về tội danh, điểm, khoản và điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khi quyết định hình phạt cho bị cáo L, nên không có tranh luận về nội dung này, mặc dù bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Luật sư đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc giữ nguyên mức hình phạt 03(ba) năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như bản án sơ thẩm, nhằm tạo điều kiện để bị cáo được cải tạo tại địa phương làm ăn lo cho gia đình, đồng thời thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền trợ cấp nuôi cháu T2 (con ông L2 đã chết) theo quyết định của Bản án sơ thẩm.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Luật sư không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc xác định bị hại (ông L2) không có lỗi là không phù hợp với diễn biến vụ tai nạn xảy ra, vì ông L2 khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong tình trạnh có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn (42,8mmol/L) vượt hơn gấp hai lần so với bị cáo (13,3 mmol/L, dẫn đến thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để tránh xe đi ngược chiều, là hành vi phạm vi phạm quy định khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; khoản 8 Điều 5 của Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G; khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia, nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức độ lỗi 10% như bản án sơ thẩm.

Về yêu cầu tăng tiền bồi thường về tổn thất tinh thần và tăng tiền trợ cấp về cấp dưỡng nuôi con của đại diện bị hại đối với bị cáo, Luật sư cho rằng yêu cầu là vượt quá khả năng của bị cáo trong điều kiện hoàn cảnh gia đình có khó khăn về kinh tế, nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên như quyết định của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, qua trao đổi với bị cáo tại phiên tòa, thì bị cáo xin tự nguyện hỗ trợ bồi thường thêm cho bên gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trong tổng số tiền đại diện bị hại yêu cầu tăng thêm, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo.

Luật sư Dương Kim H người bảo về quyền lợi ích hợp pháp cho đại diện bị hại có quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm như sau:

Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc xác định trong vụ tai nạn giao thông này về phía ông Nguyễn Hữu L2 mặc dù có sử dụng rượu, bia khi điều khiển phương tiện (xe máy) tham gia giao thông đường bộ, là có vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia, tuy nhiên, đây chỉ là hành vi phạm hành chính, do đó ông L2 không có lỗi trong vụ tai nạn này, hậu quả vụ tai nạn làm ông L2 tử vong là lỗi thuộc về bị cáo L nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình gây ra cho bị hại. Vì vậy, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về nội dung kiến nghị này của đại diện bị hại, để buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 100% theo kháng cáo của đại diện bị hại.

Đối với yêu cầu kháng cáo về tăng mức bồi thường về tổn thất tinh thần, và tăng tiền cấp dưỡng nuôi cháu T2 theo đề nghị của đại diện bị hại là có căn cứ, hiện tại hoàn cảnh kinh tế thu nhập của gia đình bị hại (bà B) sau khi ông L2 chết rất khó khăn, không đảm bảo thu nhập cho cháu T2 ăn học, vì vậy, đề ghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung yêu cầu kháng cáo này của đại diện bị hại là phù hợp.

Về hình phạt: Xét bị hại ông L2 không có lỗi, bị cáo L bị truy tố, xét xử theo tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt tù từ 03 đến 10 năm. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phát bị cáo 03 (ba) năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt, đồng thời cho bị cáo được hưởng án treo là quá nhẹ, chưa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, không có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa. Do đó, Luật sư không đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cũng như ý kiến của Luật sư người bào chữa cho bị cáo L tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo này của đại diện bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Khoảng 21h20' ngày 31/8/2022, tại trước số nhà B đường Ô, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, Trần Quốc L điều khiển xe mô tô BKS: 75R1-3579 trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định (13.3mmol/L), chở theo vợ là bà Lưu Thị Lan P ngồi phía sau đi vào phần đường ngược chiều của đường Ông Ích K (theo hướng từ đường T về đường Q) khoảng hơn 10 (mười) mét để sang phần đường bên phải, nhưng tại thời điểm trên lưu lượng xe đông nên bị cáo cho xe chạy chậm nhằm mục đích nhường đường cho các phương tiện đi ngược chiều để sang phần đường của mình để đi về nhà, tuy nhiên, trong lúc này ông Nguyễn Hữu L2 điều khiển khiển xe mô tô BKS: 43C1-475.01 (đi đúng phần đường), cũng trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để tránh xe đi ngược chiều nên đã tông vào phần đầu xe của bị cáo điều khiển làm cho cả 02 xe ngã xuống đường. Hậu quả ông L2 bị thương được đưa đi cấp cứu, đến ngày 01/9/2022 thì tử vong, bị cáo L và vợ (bà Lưu Thị Lan P) cũng bị thương tích (L 12%, bà P 5%). Như vậy, có căn cứ xác định hành vi điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông đường bộ của bị cáo L đã vi phạm các khoản 8, 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ; khoản 8 Điều 5 của Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G; khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia là nguyên nhân chính, trực tiếp của vụ tai nạn, gây ra hậu quả nghiêm trọng làm chết một người (ông L2). Trong đó, xác định cũng có một phần lỗi của ông L2 khi điều khiển phương tiện xe máy (BKS 43C1-475.01) tham gia giao thông đường bộ cũng trong tình trạnh có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn (42,8mmol/L), thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để tránh xe đi ngược chiều, cũng vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; khoản 8 Điều 5 của Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G; khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Quốc L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu ...có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Xét các nội dung kháng cáo của đại diện bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về kháng cáo tăng hình phạt: Nhận thấy, khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, đã xem xét đầy đủ một cách khách quan toàn diện cũng như diễn biến vụ việc tai nạn xảy ra, trên cơ sở xác định về nguyên nhân trực tiếp của vụ tai nạn cả hai cùng có lỗi khi điều khiển phương tiện (xe máy) tham gia giao thông đường bộ trong tình trạng đều có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định đối với bị cáo L (13.3mmol/L) và đối với bị hại ông L2 (42,8mmol/L), trong đó lỗi chính thuộc về bị cáo (do đi không đúng phần đường quy định), lỗi phụ ông L2 do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để tránh xe đi ngược chiều cùng vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; khoản 8 Điều 5 của Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G và khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia; hành vi phạm tội lỗi do vô ý, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo cũng đã tích cực vay mượn tiền để khắc phục một phần hậu quả về các khoản chi phí mai táng phí cho gia đình bị hại, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là lao động chính trong gia đình, các con còn đang đi học, sống chung với cha, mẹ già yếu, có nơi cư trú rõ ràng, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, và có khả năng tự cải tạo. Vì những lẽ trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03(ba) năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố, đồng thời cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự là phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/ 2018/NQHĐTP ngày 15/5/2018 của Hội dồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo tăng mức hình phạt của đại diện hợp pháp bị hại, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[2.2] Về kháng cáo tăng tiền bồi thường trong trách nhiệm dân sự:

[2.2.1] Về yêu cầu tăng tiền bồi thường các khoản chi phí về chữa trị, tiền mai táng phí, tiền thiệt hại của xe mô tô (43C1-47501) ở mức bồi thường 100%. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định việc bồi thường đã xem xét đầy đủ các khoản chi phí hợp lý, trên cơ sở đó, căn cứ vào Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng TPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, xem xét mức độ lỗi của ông Lương 1 và bị cáo 90%, trên cơ sở đó buộc bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền: 76.233.674 đồng (Bảy mươi sáu triệu, hai trăm ba mươi ba ngàn, sáu trăm bảy bốn đồng) là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu tăng tiền bồi thường các khoản chi phí về chữa trị, tiền mai táng phí, tiền thiệt hại của xe mô tô của đại diện bị hại và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[2.2.2] Về yêu cầu tăng mức bồi thường về tổn thất tinh thần: Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo quy định tại khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, đây là quyền lợi chính đáng, tuy nhiên, xét về điều kiện và khả năng kinh tế thực tế của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường số tiền 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng) tương tướng ứng 75 tháng lương cơ sở là cũng phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của đại diện bị hại.

[2.2.3] Về yêu cầu tăng mức cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trần Thủy T2 (sinh ngày 27/01/2013) từ 2.500.000 đồng/tháng lên 3.500.000 đồng/ tháng. Hội đồng xét xử xét thấy, Điều 69, 71 và 72 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục v..v..con thuộc về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, đối với cháu Nguyễn Trần Thủy T2 thuộc nghĩa vụ ông Nguyễn Hữu L2 và bà Trần Thị B, tuy nhiên, việc ông L2 chết là do hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của bị cáo L gây ra, vì vậy, việc buộc bị cáo L thực hiện nghĩa vụ này thay cho ông L2 (đã chết) là đúng với quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm, khi quyết về mức cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên đối với cháu T2 (con ông L2) đã xem xét một cách khách quan về hoàn cảnh, khả năng thu nhập của bị cáo trong điều kiện phải có trách nhiệm nuôi dưỡng đối với hai con còn đang độ tuổi ăn học, lo cuộc sống gia đình và trách nhiệm phụng dưỡng cha, mẹ già yếu, trên cơ sở đó, buộc bị cáo L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thay cho ông L2 (đã chết) mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm ngàn đồng) để góp cùng với bà B nuôi dưỡng cháu T2 đến tuổi trưởng thành, Hội đồng xét xử nhận thấy như vậy là phù hợp, nên không chấp nhận yêu cầu này của đại diện bị hại.

[2.2.4] Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin tự nguyện hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) ngoài số tiền mà Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị cáo đối với gia đình bị hại, không trái với đạo đức xã hội và quy định của pháp luật, nên cần được chấp nhận.

[3] Từ những lập luận như đã nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận luận cứ và đề nghị của Luật sư người bào chữa cho bị cáo L và không chấp nhận luận cứ và đề nghị của Luật sư người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đại diện hợp pháp bị hại tại phiên tòa.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Đại diện bị hại phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Căn cứ:

Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1.1. Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại (ông Nguyễn Hữu L2) gồm bà Nguyễn Thục Thiên A, bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thục Huyền T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 143/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng về hình phạt và về trách nhiệm dân sự.

1.2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc L: 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên: Giao bị cáo Trần Quốc L về cho Ủy ban nhân dân phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589, 591, 593 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

1.3.1. Buộc: Bị cáo Trần Quốc L phải có trách nhiệm bồi thường cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Hữu L2 (đã chết) gồm bà Trần Thị B (vợ), bà Nguyễn Thục Huyền T1, bà Nguyễn Thục Thiên A và cháu Nguyễn Trần Thủy T2 (các con) số tiền: 76.233.674 đồng (Bảy mươi sáu triệu, hai trăm ba mươi ba ngàn, sáu trăm bảy bốn đồng).

1.3.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Buộc bị cáo Trần Quốc L phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trần Thủy Tiên s ngày 27/01/2013 (con của ông L2) mỗi tháng số tiền: 2.500.000 đồng/tháng. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tính từ ngày 01/01/2024 cho đến khi cháu Nguyễn Trần Thủy T2 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Việc thay đổi mức cấp dưỡng trong thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nếu có được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

1.3.3. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Quốc L về việc hỗ trợ, bồi thường thêm cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Hữu L2 (đã chết) gồm bà Trần Thị B (vợ), bà Nguyễn Thục Huyền T1, bà Nguyễn Thục Thiên A và cháu Nguyễn Trần Thủy T2 (các con) số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm bồi thường thì phải chịu thêm khoản tiền lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

II. Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc đại diện hợp pháp của bị hại (ông nguyễn Hữu L3) gồm bà Nguyễn Thục Thiên A, bà Trần Thị B, bà Nguyễn Thục Huyền T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.

III.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

IV.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Cơ quan CSĐT CQQ Hải Châu;
  • - TAND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Sở Tư pháp TPĐN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký và đóng dấu)

Phan Vĩnh Chuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 86/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 21h20’ ngày 31/8/2022, tại trước số nhà B đường Ô, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, Trần Quốc L điều khiển xe mô tô BKS: 75R1-3579 trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định (13.3mmol/L), chở theo vợ là bà Lưu Thị Lan P ngồi phía sau đi vào phần đường ngược chiều của đường Ông Ích K (theo hướng từ đường T về đường Q) khoảng hơn 10 (mười) mét để sang phần đường bên phải, nhưng tại thời điểm trên lưu lượng xe đông nên bị cáo cho xe chạy chậm nhằm mục đích nhường đường cho các phương tiện đi ngược chiều để sang phần đường của mình để đi về nhà, tuy nhiên, trong lúc này ông Nguyễn Hữu L2 điều khiển khiển xe mô tô BKS: 43C1-475.01 (đi đúng phần đường), cũng trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để tránh xe đi ngược chiều nên đã tông vào phần đầu xe của bị cáo điều khiển làm cho cả 02 xe ngã xuống đường. Hậu quả ông L2 bị thương được đưa đi cấp cứu, đến ngày 01/9/2022 thì tử vong, bị cáo L và vợ (bà Lưu Thị Lan P) cũng bị thương tích (L 12%, bà P 5%). Như vậy, có căn cứ xác định hành vi điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông đường bộ của bị cáo L đã vi phạm các khoản 8, 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ; khoản 8 Điều 5 của Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G; khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia là nguyên nhân chính, trực tiếp của vụ tai nạn, gây ra hậu quả nghiêm trọng làm chết một người (ông L2). Trong đó, xác định cũng có một phần lỗi của ông L2 khi điều khiển phương tiện xe máy (BKS 43C1-475.01) tham gia giao thông đường bộ cũng trong tình trạnh có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn (42,8mmol/L), thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để tránh xe đi ngược chiều, cũng vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; khoản 8 Điều 5 của Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G; khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger