|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2024/DS-ST
Ngày: 25 – 6 – 2024
“V/v Tranh chấp nợ hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh;
- Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 438/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2023, về việc: “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trương Thị Kim D, sinh năm 1986 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã L, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
* Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1967 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp V, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04/12/2023, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Trương Thị Kim D trình bày:
Bà Trần Thị L là chủ hụi, bà L mở các dây hụi kêu gọi hụi viên tham gia, nên bà Trương Thị Kim D có tham gia chơi hụi do bà L làm chủ. Bà D tham gia và đóng hụi đầy đủ nhưng đến ngày hốt hụi thì bà L chỉ hứa hẹn mà không cho bà D hốt hụi theo quy định. Do bà L cố tình không trả hụi nên bà D có gởi đơn cho Tổ hòa giải ấp V, xã V nhờ giải quyết. Tại buổi hòa giải, bà L thừa nhận nợ bà D số tiền hụi là 58.500.000₫ (năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) và hứa hẹn mỗi tháng trả 4.000.000đ (bốn triệu đồng) nhưng cho đến nay bà L vẫn không thực hiện.
Nay, bà D yêu cầu Tòa án thị xã Vĩnh Châu giải quyết: Buộc bà Trần Thị L phải có trách nhiệm trả cho bà D số tiền nợ hụi là 58.500.000đ (năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với bị đơn bà Trần Thị L:
Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kim D nhưng bà Trần Thị L không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự, bà L cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 07/6/2024, bà L vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Trương Thị Kim D khởi kiện, yêu cầu bà Trần Thị L trả tiền nợ hụi. Đây là giao dịch dân sự được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Trần Thị L đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bà Trần Thị L.
[2] Về nội dung giải quyết:
[2.1] Xét khi giao kết hợp đồng hụi, bà D và bà L là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện của hai bên được quy định tại các Điều 117 và 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về đòi tiền hụi: Trong quá trình giải quyết vụ án, lời trình bày của nguyên đơn về việc bà D tham gia dây hụi do bà L làm đầu thảo và bà L còn nợ của bà D số tiền là 58.500.000₫ (năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng). Cụ thể tại Biên bản hòa giải của Tổ hòa giải ấp V, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng bà L thừa nhận còn nợ tiền hụi của bà D với số tiền 58.500.000₫ (năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) cũng như sự không phản đối của bà L trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao kết hợp đồng là dựa trên sự tự nguyện của hai bên, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên công nhận đây là hợp đồng góp hụi hợp pháp được pháp luật điều chỉnh tại các điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 14, 20, 30 của Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; bà L là chủ hụi, bà L phải có nghĩa vụ trả hụi cho hụi viên khi đến kỳ nhận hụi mà hai bên đã thỏa thuận. Tuy nhiên, khi bà L đã góp xong hụi nhưng bà D đã không trả hụi theo quy định như vậy bà L đã vi phạm quy định về nghĩa vụ của chủ hụi. Hội đồng xét xử xét thấy, quy định của pháp luật quy định trách nhiệm của chủ hụi tại các Điều 15, 27, 29 của Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ “về họ, hụi, biêu, phường” và Điều 18, 23 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ “về họ, hụi, biêu, phường” quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ hụi thì bà L phải chịu hậu quả đối với việc vi phạm của mình. Từ các căn cứ nêu trên, đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, có cơ sở khách quan để kết luận việc giao dịch dân sự giữa các bên đối với việc góp hụi và bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 58.500.000₫ (năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) là có căn cứ. Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nêu trên cho nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà D có đơn yêu cầu thi hành án, bà L phải trả lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
[3] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bà L phải chịu toàn bộ án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92, khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 468, Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 15, 27, 29 của Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ vào các Điều 15, 16, 17, 18, 23, 24 và 27 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Kim D đối với bị đơn bà Trần Thị L, về việc “Tranh chấp nợ hụi”.
Buộc bà Trần Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Kim D số tiền nợ hụi là 58.500.000đ (năm mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà D có đơn yêu cầu thi hành án, bà L phải trả lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.925.000đ (hai triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Bà Trương Thị Kim D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.462.500đ (một triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai thu số 0003026 ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; bị đơn bà Trần Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VÕ THỊ HIẾU |
Bản án số 86/2024/DS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp nợ hụi
- Số bản án: 86/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nợ hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
