|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
|
Bản án số: 86/2024/DS-ST Ngày: 25 - 4 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Đạt;
- Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 7, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 235/2021/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; Địa chỉ trụ sở: Số B phố B, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1980 (Có mặt); Địa chỉ liên hệ: Số A- A N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 2096/2024/UQ-BĐH.NCB ngày 26/3/2024.)
- Bị đơn: Ông Phan Hoàng C, sinh năm 1988 (Vắng mặt); Địa chỉ thường trú: Tổ B, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Địa chỉ ghi trên hợp đồng: Số B P, Tổ A, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần Đ; Địa chỉ trụ sở: Tầng H Tòa nhà P, Số E Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Thái Ngô Kim K, sinh năm 2000 (Vắng mặt); Địa chỉ: Số I N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy uỷ quyền ngày 20/12/2022).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tại đơn khởi kiện ngày 28/4/2021, trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án có bà Nguyễn Thị Mỹ L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 08/01/2018, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt nguyên đơn) có ký kết với ông Phan Hoàng C (viết tắt bị đơn) Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV - 9312 ngày 08/01/2018. Theo đó, nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) với mục đích thanh toán tiền mua căn hộ R1-SH-12, R1-SH-18 theo Hợp đồng mua bán căn hộ số ALH_0111/2017/HĐMB-Căn hộ Ruby1-Aloha Beach Village ngày 01/11/2017 thuộc dự án Khu trung tâm thương mại dịch vụ và biệt thự, căn hộ bán và cho thuê Aloha B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; thời hạn cho vay là 240 tháng tính từ ngày tiếp theo kể từ ngày giải ngân Khế ước nhận nợ đầu tiên; Mức lãi suất cho vay là 8,49%/năm kể từ ngày giải ngân đầu tiên cho đến ngày 16/01/2019, lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của Khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần theo công thức LSV bằng (=) Lãi suất cơ sở cộng (+) 3,9%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả lãi là 10%/năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với ngày chậm trả; Phương thức thanh toán: hàng tháng ông C phải thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất nêu trên và số tiền nợ gốc từ kì 1 đến kì 239 là 11.350.000 đồng, kì cuối trả số tiền nợ gốc là 11.668.440 đồng.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng: nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn số tiền 2.724.318.440 đồng theo Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018.
Tài sản đảm bảo khoản vay nêu trên là toàn bộ Quyền tài sản của ông Phan Hoàng C phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số ALH_0111/2017/HĐMB - Căn hộ Ruby 1-Aloha Beach Village ngày 01/11/2017 do ông Phan Hoàng C ký với Công ty Cổ phần Đ thuộc dự án Khu trung tâm thương mại – dịch vụ và biệt thự, căn hộ bán hoặc cho thuê Aloha B có địa chỉ tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Thủ tục bảo đảm được thực hiện bằng Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số 03/18/HĐTC/9312 ngày 08/01/2018 được ký kết giữa ông Phan Hoàng C với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 01/4/2018 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình vay vốn, bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn được tổng số tiền 841.750.414 đồng (trong đó: số tiền nợ gốc là 282.223.005 đồng, số tiền nợ lãi là 559.527.409 đồng), đến ngày 25/4/2018 thì ông C thanh toán tiền vay không đúng theo thỏa thuận và đến ngày 11/02/2022 thì ông C không thanh toán nữa.
Bị đơn đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ, tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 25/4/2024, ông Phan Hoàng Công n Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với tổng số tiền là 4.178.322.995 đồng, gồm:
- Nợ gốc là 2.442.095.435 đồng;
- Lãi trong hạn là 1.232.180.337 đồng (chi tiết được liệt kê kèm theo bảng tính dư nợ);
- Lãi quá hạn là 242.654.777 đồng (chi tiết được liệt kê kèm theo bảng tính dư nợ);
- Lãi chậm trả lãi là 261.820.454 đồng (chi tiết được liệt kê kèm theo bảng tính dư nợ).
Nguyên đơn đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, bị đơn đã vi phạm các điều khoản của hợp đồng đã ký kết với nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7 xem xét buộc bị đơn ông Phan Hoàng C thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018, tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 25/4/2024 là 4.178.322.995 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 2.442.095.435 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 1.232.180.337 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là 242.654.777 đồng và số tiền nợ lãi chậm trả lãi trong hạn là 261.820.454 đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày 26/4/2024 ông Phan Hoàng C còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh đến ngày thanh toán hết nợ gốc và tiếp tục trả lãi chậm trả lãi đến ngày thanh toán hết nợ lãi trong hạn theo Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 đã ký với Ngân hàng. Trường hợp ông Phan Hoàng C không thanh toán khoản nợ gốc và lãi nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền tài sản của ông Phan Hoàng C phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số ALH-0111/2017/HĐMB - Căn hộ Ruby 1 - Aloha Beach Village ngày 01/11/2017 do ông Phan Hoàng C ký với Công ty Cổ phần Đ thuộc dự án Khu trung tâm thương mại – dịch vụ và biệt thự, căn hộ bán hoặc cho thuê Aloha B có địa chỉ tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận để thu hồi công nợ ngay khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Nếu tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Tại phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mỹ L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày thêm: Để tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ và để có lợi cho bị đơn thì nguyên đơn chỉ chuyển nợ gốc quá hạn đối với các khoản nợ gốc đến hạn thanh toán nhưng ông C chưa thanh toán chứ không chuyển toàn bộ khoản dư nợ gốc sang nợ quá hạn khi ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, đến ngày 25/4/2024 Ngân hàng chỉ chuyển số tiền 569.026.995 đồng là nợ gốc sang nợ quá hạn trong tổng số tiền nợ gốc 2.442.095.436 đồng. Số tiền vay theo hợp đồng là 3.000.000.000 đồng nhưng do ông C chưa được cấp giấy Chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm nên ông C chỉ đề nghị giải ngân số tiền 2.724.318.440 đồng, số tiền còn lại ông C sẽ đề nghị giải ngân khi được cấp giấy Chứng nhận quyền sở hữu. Vì vậy, theo Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 thì Ngân hàng chỉ giải ngân cho ông Phan Hoàng C số tiền 2.724.318.440 đồng.
Đồng thời, bà L xác nhận lại yêu cầu khởi kiện: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị bị đơn thanh toán tiền còn nợ là 4.178.322.995 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 2.442.095.435 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 1.232.180.337 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là 242.654.777 đồng và số tiền nợ lãi chậm trả lãi trong hạn là 261.820.454 đồng.
Đề nghị bị đơn thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, kể từ ngày 26/4/2024, ông Phan Hoàng C còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền gốc chậm thi hành án cho đến khi trả xong nợ gốc và tiếp tục chịu nợ lãi chậm trả lãi cho đến khi thanh toán xong nợ lãi trong hạn theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018. Trong trường hợp ông Phan Hoàng C không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì đề nghị Tòa án tuyên nguyên đơn được quyền phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ các Quyền tài sản của ông Phan Hoàng C phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số ALH_0111/2017/HĐMB - Căn hộ Ruby 1-Aloha Beach Village ngày 01/11/2017 để thu hồi công nợ. Nếu tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Nguyên đơn xác định chỉ cho cá nhân ông C vay tiền, thời điểm vay tiền ông C độc thân không kết hôn với ai nên chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông C trả nợ, không yêu cầu ai khác có trách nhiệm trả nợ.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do nguyên đơn đã nộp xong 10.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên đề nghị Toà án giải quyết buộc bị đơn thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền trên theo quy định của pháp luật.
Về phía bị đơn ông Phan Hoàng C, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập ông C đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng ông C không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ do bà Thái Ngô Kim K tại bản tự khai ngày 22/12/2022 trình bày:
Ngày 01/11/2017, ông Phan Hoàng C và Công ty CP Đ ký kết hợp đồng mua bán căn hộ số ALH_0111/2017/HĐMB - Căn hộ Ruby 1 – Aloha Beach Village (căn hộ S, R1-SH-18) thuộc Dự án Aloha Beach Village. Giá trị mua bán theo thoả thuận là 5.613.879.040 đồng (đã bao gồm giá bán căn hộ, thuế GTGT và kinh phí bảo trì căn hộ 2%). Tính đến thời điểm hiện tại, ông C đã thanh toán được số tiền 5.237.949.640 đồng cho Công ty, tương ứng với 95% giá trị Hợp đồng. Theo đó, số tiền ông C chưa thanh toán gồm: kinh phí bảo trì 2% tương ứng với 100.247.840 đồng (sẽ thanh toán khi bàn giao căn hộ) và chi phí cấp Giấy chứng nhận 5% tương ứng với 275.681.560 đồng (sẽ thanh toán khi bàn giao Giấy chứng nhận). Vì vậy, trường hợp Ngân hàng tiến hành xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì Công ty đề nghị sẽ tiếp tục thực hiện theo đúng các điều khoản về việc thanh toán 2% phí bảo trì, 5% phí cấp Giấy chứng nhận và các chi phí khác (nếu có) đã quy định trong Hợp đồng mua bán, các Phụ lục đính kèm Hợp đồng với người mua mới.
Sau khi có bản tự khai nêu trên thì Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà K là người đại diện theo ủy quyền cũng như Công ty CP Đ đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng bà K và công ty không đến Tòa vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Trong vụ án này Công ty Cổ phần Đ không có yêu cầu độc lập.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử không đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt không có lý do trong suốt thời gian giải quyết vụ án.
* Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông Phan Hoàng C thanh toán tiền nợ tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 4.178.322.995 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 2.442.095.435 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 1.232.180.337 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là 242.654.777 đồng và số tiền nợ lãi chậm trả lãi trong hạn là 261.820.454 đồng. Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi ông Phan Hoàng C thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp địa chỉ tạm trú của bị đơn là số B P, Tổ A, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo địa chỉ được bị đơn ghi trong Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 và các văn bản khác với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đều thể hiện bị đơn có địa chỉ thường trú là Tổ F, thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam và địa chỉ tạm trú là số B P, Tổ A, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường P, Quận G tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 486/2021/QĐ-CCTLCC ngày 19/11/2021 của Tòa án nhân dân Quận 7 thì đương sự Phan Hoàng C không thực tế cư ngụ tại địa chỉ B P, Tổ A, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 241/2022/QĐ-CCTLCC ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7 thì đương sự Phan Hoàng C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Tổ B, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Hiện ông C đang sinh sống tại địa chỉ Chung cư A Block B, số D đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả trả lời xác minh của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 519/2023/QĐ-CCTLCC ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7 thì đương sự Phan Hoàng C có cư trú tại địa chỉ căn hộ B Chung cư S P (nối dài) Phường A, quận B từ ngày 21/8/2021 đến tháng 8/2023 trả nhà thuê không còn thực tế cư trú, đi đâu không rõ.
Vì vậy, trong đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn. Nay bị đơn vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40, Điểm b Khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
[1.2] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và bị đơn cư trú tại Quận G nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.4] Đối với bị đơn ông Phan Hoàng C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ.
[2] Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi đương sự có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
[3] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh: Tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Phan Hoàng C đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu ông Phan Hoàng C phải trả số tiền gốc, lãi của Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 tạm tính đến ngày 25/4/2024 tổng cộng là 4.178.322.995 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 2.442.095.435 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 1.232.180.337 đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là 242.654.777 đồng và số tiền nợ lãi chậm trả lãi trong hạn là 261.820.454 đồng. Ngoài ra kể từ ngày 26/4/2024, ông Phan Hoàng C còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền nợ gốc chậm thi hành án cho đến khi trả xong nợ gốc và tiếp tục chịu tiền lãi chậm trả cho đến khi trả xong nợ lãi trong hạn theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 đã ký. Hội đồng xét xử nhận định:
[4.1.2] Đối với yêu cầu trả nợ gốc:
Căn cứ Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 và các văn bản tín dụng khác được nguyên đơn và bị đơn cùng thỏa thuận và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, người tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng và các văn bản tín dụng này có hiệu lực pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ, nguyên đơn và bị đơn phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết.
Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ, giải ngân số tiền vay 2.724.318.440 đồng theo đúng số tiền và đúng thời gian như đã thỏa thuận. Bị đơn đã nhận số tiền theo Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 nhưng chỉ thanh toán được số tiền 841.750.414 đồng (trong đó thanh toán số tiền nợ gốc là 282.223.005 đồng và thanh toán số tiền nợ lãi là 559.527.409 đồng), là không thanh toán đầy đủ tiền nợ gốc, lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng mà các bên đã ký kết, vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên bị đơn là bên có lỗi. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả số tiền nợ gốc là 2.442.095.435 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.1.3] Về nghĩa vụ trả tiền nợ vay:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q yêu cầu bị đơn ông Phan Hoàng C có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ theo khoản vay của Hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bên B là bên vay - ông Phan Hoàng C, Bên A là bên cho vay - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
Tại Khoản 7.1 Điều 7 của Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 các bên thỏa thuận “Bên B phải trả hết các khoản phải trả cho bên A khi đến hạn trả nợ theo thỏa thuận của hai bên tại Hợp đồng này, Khế ước nhận nợ...”
Tại mục 8 của Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 các bên thỏa thuận “Bên B phải trả cho Bên A lãi vay và nợ gốc theo các nội dung thỏa thuận....”
Căn cứ Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì “bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”.
Đến nay ông Phan Hoàng C không thanh toán tiền còn nợ của Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc bị đơn ông Phan Hoàng C là bên có nghĩa vụ trả khoản nợ vay theo Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018, Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.1.4] Đối với yêu cầu về trả nợ lãi: Xét các bên tự nguyện thỏa thuận việc tính lãi, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Đây là mức lãi suất theo thỏa thuận, có giá trị ràng buộc quyền, nghĩa vụ trả lãi của bên vay. Thời hạn tính lãi trong hạn, lãi quá hạn, nợ lãi chậm trả và số tiền chuyển nợ quá hạn, số tiền tính nợ lãi trong hạn và nợ lãi chậm trả lãi là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018, Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 và có lợi cho bị đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ lãi tính đến ngày 25/4/2024 bao gồm: Lãi trong hạn là 1.232.180.337 đồng; Lãi quá hạn là 242.654.777 đồng; Lãi chậm trả lãi là 261.820.454 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm, ông Phan Hoàng C còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi trong hạn trên số tiền nợ gốc chậm thi hành cho đến khi trả xong nợ gốc và tiền lãi chậm trả cho đến khi trả xong nợ lãi trong hạn theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018.
[4.2] Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu của nguyên đơn về việc bị đơn phải trả số tiền còn nợ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.
[4.3] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
[4.3.1] Để đảm bảo khoản vay theo Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018, nguyên đơn và bị đơn đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số 03/18/HĐTC/9312 ngày 08/01/2018 thế chấp toàn bộ các Quyền tài sản của ông Phan Hoàng C phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số ALH_0111/2017/HĐMB - Căn hộ R Beach Village ngày 01/11/2017 do ông Phan Hoàng C ký với Công ty Cổ phần Đ thuộc dự án Khu trung tâm thương mại – dịch vụ và biệt thự, căn hộ bán hoặc cho thuê Aloha B có địa chỉ tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
[4.3.2] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/7/2023 thể hiện: Hiện trạng căn hộ R1-SH-12 và R1-SH-18 đúng theo Hợp đồng mua bán căn hộ số ALH_0111/2017/HĐMB - Căn hộ R – Aloha Beach Village thuộc Dự án Aloha Beach Village ngày 01/11/2017 giữa Công ty cổ phần Đ và ông Phan Hoàng C theo các phụ lục đính kèm và theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số 03/18/HĐTC/9312 ngày 08/01/2018. Về nội thất: hai căn hộ không có nội thất; về tình trạng sử dụng căn hộ: hai căn hộ không có người sử dụng.
Xét thấy, việc các thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 01/4/2018 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, khi đến hạn thanh toán mà ông Phan Hoàng C không thực hiện nghĩa vụ là đã vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ các Quyền tài sản của ông Phan Hoàng C phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số ALH_0111/2017/HĐMB - Căn hộ Ruby 1-Aloha Beach Village ngày 01/11/2017 do ông Phan Hoàng C ký với Công ty Cổ phần Đ thuộc dự án Khu trung tâm thương mại – dịch vụ và biệt thự, căn hộ bán hoặc cho thuê Aloha B có địa chỉ tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận là phù hợp với các thỏa thuận tại Điều 4 và Điều 5 của Hợp đồng thế chấp đồng thời phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Nếu tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay, yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại mục iii điểm b khoản 4.2 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.3.3] Ngay sau khi ông Phan Hoàng C thanh toán hết nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có trách nhiệm tiến hành làm thủ tục giải chấp tài sản thế chấp và trả lại các bản chính giấy tờ về tài sản thế chấp là Hợp đồng mua bán, các phụ lục đính kèm hợp đồng mua bán.
[5] Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên phía bị đơn phải chịu tiền lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp xong số tiền 10.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, bị đơn có trách nhiệm thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên phía bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo quy định của pháp luật.
[7] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 68; Khoản 4 Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 466, Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 91 và Khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí, lệ phí và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung 2014;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q:
1.1. Buộc ông Phan Hoàng C phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tổng số tiền nợ của Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018 tính đến ngày 25/4/2024 là 4.178.322.995 (Bốn tỷ một trăm bảy mươi tám triệu ba trăm hai mươi hai ngàn chín trăm chín mươi lăm) đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 2.442.095.435 (Hai tỷ bốn trăm bốn mươi hai triệu không trăm chín mươi lăm ngàn bốn trăm ba mươi lăm) đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 1.232.180.337 (Một tỷ hai trăm ba mươi hai triệu một trăm tám mươi ngàn ba trăm ba mươi bảy) đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là 242.654.777 (Hai trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm năm mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi bảy) đồng và số tiền nợ lãi chậm trả lãi trong hạn là 261.820.454 (Hai trăm sáu mươi một triệu tám trăm hai mươi ngàn bốn trăm năm mươi bốn) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.
1.2 Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Phan Hoàng C còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chậm thanh toán cho đến khi trả xong nợ gốc, chịu lãi trong hạn trên số tiền nợ gốc chậm thanh toán cho đến khi hết thời hạn của hợp đồng cho vay và tiền lãi chậm trả cho đến khi trả xong nợ lãi trong hạn theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng cho vay số 03/18/HĐCV-9312 ngày 08/01/2018 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN/0318-9312 ngày 16/01/2018.
1.2 Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Phan Hoàng C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu ông Phan Hoàng C, yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo là: toàn bộ các Quyền tài sản của ông Phan Hoàng C phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số ALH 0111/2017/HĐMB - Căn hộ Ruby 1-Aloha Beach Village ngày 01/11/2017 do ông Phan Hoàng C ký với Công ty Cổ phần Đ thuộc dự án Khu trung tâm thương mại – dịch vụ và biệt thự, căn hộ bán hoặc cho thuê Aloha B có địa chỉ tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số 03/18/HĐTC/9312 ngày 08/01/2018. Nếu tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
1.3 Khi ông Phan Hoàng C thanh toán hết nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có trách nhiệm tiến hành làm thủ tục giải chấp và trả lại cho ông Phan Hoàng C bản chính giấy tờ về tài sản thế chấp là Hợp đồng mua bán căn hộ số ALH_0111/2017/HĐMB - Căn hộ Ruby 1-Aloha Beach Village ngày 01/11/2017 và các phụ lục đính kèm hợp đồng mua bán đối với tài sản thế chấp.
1.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phan Hoàng C phải chịu là 112.178.323 (Một trăm mười hai triệu một trăm bảy mươi tám ngàn ba trăm hai mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 44.301.835 (Bốn mươi bốn triệu ba trăm lẻ một đồng tám trăm ba mươi lăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0042710 ngày 17/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.4. Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Phan Hoàng C phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
2. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
3. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Luyến |
Bản án số 86/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 86/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Quốc Dân khởi kiện ông phan Hoàng Công thnah toán tiền nợ theo hợp đồng tín dụng
