Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 24-10-2023

V/v: Xin ly hôn, nuôi con, cấp

dưỡng nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Hồng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
  2. Ông Nguyễn Đinh Cường

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Phụng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: (không tham gia phiên toà).

Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 191/2023/TLST- HNGĐ, ngày 02 tháng 8 năm 2023, về việc: “xin ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con“ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91A/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lâm Thanh T, sinh 2001 (có mặt).
    Địa chỉ: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  2. Bị đơn: Anh Lê Hiếu T1, sinh 1996 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Khóm C, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 8 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm thì nguyên đơn chị Lâm Thanh T trình bày: Nguyên đơn chị Lâm Thanh T với bị đơn anh Lê Hiếu T1 cưới nhau trên cơ sở tìm hiểu quen biết, được gia đình chấp thuận tổ chức cưới, hỏi theo phong tục tập quán vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là thị trấn C), huyện M, tỉnh Vĩnh Long, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, ngày 19 tháng 02 năm 2019. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là tính tình không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm cự cãi nhau, gia đình động viên hòa giải nhưng không thể khắc phục được, nên ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Gia K, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2018 hiện đang chung sống với chị T.

Do sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:

Về quan hệ vợ hôn nhân: Chị T xin được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là cháu Lê Gia K, yêu cầu anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng cháu, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Lê Gia K đủ 18 tuổi.

Về tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho anh T1 biết việc Tòa án thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của chị T, nhưng anh T1 không có văn bản trình bày ý kiến, vắng mặt tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 22 tháng 8 và ngày 08 tháng 9 năm 2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định;

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị T khởi kiện bị đơn anh T1 là loại quan hệ pháp luật tranh chấp xin ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh T1 có nơi cư trú tại huyện M. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Ngày 06 tháng 10 năm 2023 Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử lần thứ nhất, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh T1 vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Hôm nay xét xử lần 2, mặc dù đã bàn giao văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T1 tiếp tục vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T với anh T1 cưới nhau theo phong tục tập quán vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là thị trấn C), huyện M, tỉnh Vĩnh Long, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, ngày 19 tháng 02 năm 2019, là hôn nhân tiến bộ, hợp pháp và được công nhận là vợ chồng.

Xét, chị T cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2021, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm thường xuyên cự cãi nhau, nên ly thân từ đầu cuối năm 2022 đến nay. Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1. Trong quá trình thụ lý, giải quyết tại Tòa án, anh T1 không tham gia hòa giải, xét xử, không có văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng là có xảy ra trên thực tế, tình nghĩa vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa chị T với anh T1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1 là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 51, 53, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Khi ly hôn chị T yêu cầu trực tiếp nuôi con chung là cháu Lê Gia K, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2018. Anh T1 không có ý kiến và cung cấp chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét. Cháu K hiện tại đang sống chung với chị T, giao cháu K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng sẽ thuận lợi cho sinh hoạt cũng như ổn định tâm lý, chị T cũng có đủ điều kiện nuôi dưỡng. Yêu cầu của chị T là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận.

Xét, chị T yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi, anh T1 không có ý kiến. Xét thấy, tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: "Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng". Mức cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng chị T yêu cầu là phù hợp quy định của pháp luật, phù với thực tế tại địa phương. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị T, buộc anh T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

[2.3] Về tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả: Không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

[4] Về án phí: Áp dụng các Điều 24, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị T nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.

Anh T1 phải nộp 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và các Điều 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 24, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lâm Thanh T;

  1. Xử cho nguyên đơn chị Lâm Thanh T được ly hôn với bị đơn anh Lê Hiếu T1.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Gia K, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2018 cho nguyên đơn chị Lâm Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.

    Bị đơn anh Lê Hiếu T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Lê Gia K đủ 18 tuổi.

    Bị đơn anh Lê Hiếu T1 có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

  3. Về tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả: Không có yêu cầu giải quyết, nên không xét.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lâm Thanh T nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ từ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng ) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, lai số: № 0001122, ngày 02 tháng 8 năm 2023, nên không phải nộp thêm.

    Bị đơn anh Lê Hiếu T1 nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thi hành án xong đối với số tiền gốc phải thi hành, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Đương sự (nguyên đơn) có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự (bị đơn) vắng mặt tại phiên tòa, báo cho biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAT (P.KTNV&THA);
  • - VKSND huyện MT;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND tt C;
  • - Các đương sự (T, T1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Bùi Hồng Phúc

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2023/HNGĐ-ST ngày 24/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con

  • Số bản án: 86/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, nuôi con giữa chị T và anh T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger