|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2023/HS-ST Ngày 24 - 8 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
Ông Trần Đình Khoa
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Lực – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023. Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 14/QĐTTĐ - HS, ngày 24 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm: 1995, tại Hà Nội; Nơi cư trú: Xã L, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến H1, con bà Nguyễn Thị L. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình hai anh em, bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tạm giam từ ngày 12/6/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, có mặt tại tòa
2. Bị hại: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1955; địa chỉ: Số A N, khu phố G, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước đây, Sau khi Nguyễn Văn H bị đuổi khỏi nhà trọ ở địa chỉ A đường N, tổ H, khu phố G, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, khoảng 02 giờ 00 phút ngày 07 tháng 6 năm 2023, H trèo rào vào khu trọ để tìm lại giấy tờ của mình nhưng không thấy. Sau đó, H đi ngược ra phía trước và phát hiện 01 (một) chiếc xe mô tô Honda, Wave biển số 72H5-8891 đang để ở trong nhà kho của bà Nguyễn Thị H2 (chủ nhà trọ), chìa khóa xe cắm sẵn ở trên xe, cửa không khóa. H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy để sử dụng. H mở cửa nhà kho bằng cách vật chốt từ bên trong rồi dắt xe ra khỏi nhà kho, đi bộ một đoạn rồi nổ máy xe mô tô biển số 72H5-8891, điều khiển chiếc xe máy chạy đi. Ngày 10 tháng 6 năm 2023, bà H2 đến Công an phường P, thành phố B để trình báo vụ việc bị mất trộm 01 (một) chiếc xe mô tô Honda, Wave biển số 72H5-8891.
Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 12 tháng 6 năm 2023, Công an phường P kiểm tra hành chính tại tiệm Internet thuộc tổ C, khu phố G, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phát hiện xe mô tô biển số 72H5-8891 cùng Nguyễn Văn H đang ở trong tiệm nên đưa H về làm việc, thu giữ xe mô tô biển số 72H5-8891 mà H đã trộm cắp được. Qua làm việc, Nguyễn Văn H đã khai nhận về hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 72H5-8891 tại nhà của bà Nguyễn Thị H2 như trên.
Thu giữ, xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu: HONDA, biển số: 72H5-8891, dung tích xi lanh: 97cm³, màu sơn: xanh, số máy: HC08E-0252940, số khung: HC0803E-0252957. Qua xác minh xe mô tô ông Nguyễn Quyết T, sinh năm 1965, thường trú tại: Thường G, thành phố Y, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đứng tên chủ sở hữu. Ông T là con rể của bà H2, đã cho bà H2 chiếc xe trên nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô cho bà Nguyễn Thị H2.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi nhận lại tài sản, bà H2 không có yêu cầu bồi thường.
Bản Cáo trạng số 94/CT/VKS ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị mức án đối với Nguyễn Văn H từ 6 tháng đến 9 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.
- Bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
- Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản trong tố tụng, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 2 giờ 00 phút ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại nhà bà Nguyễn Thị H2 ở số A N, tổ H, khu phố G, P, thành phố B, Nguyễn Văn H trèo rào vào nhà kho, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô Honda, Wave biển số 72H5-8891 trị giá 8.330.000 đồng của bà H2.
Hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật của Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H2 về việc không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại xe cho bà H2 là đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s, i khoản 1 Điều 51;Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2023.
[2] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a, e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Dung |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Bùi Thị Dung |
Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự sơ thẩm (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 86/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tội Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H " trộm cắp tài sản"
