TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 7 - 2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thương.
- Bà Nguyễn Thị Mến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024, Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 49/2024/QĐ-TĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1985.
- Bị đơn: Ông Tạ Quốc V, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Số E, đường P, khu phố E, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Số I, đường H, khu phố H, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Hồ Thị T trình bày: Bà và ông Tạ Quốc V tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân. Ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V ngày 07/8/2018, đăng ký kết hôn số 113. Quá trình chung sống, giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Ông bà đã ly thân từ Tết âm lịch 2024 đến nay. Bà xác định không còn tình cảm với ông V, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu được ly hôn với ông V.
Về con chung, ông bà có 01 con chung là cháu Tạ Quốc D, sinh ngày 21/10/2012. Từ khi ly thân tới nay, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu D, yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/tháng, cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Bà hiện đang chăn nuôi gà giống, thu nhập hàng tháng là 10.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản xác minh ngày 27/5/2024 của ông Tạ H và bà Nguyễn Thị Bàn I cha mẹ ruột của ông V, thể hiện:
- Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Hồ Thị T và ông Tạ Quốc V cũng không trầm trọng lắm. Mọi chuyện xảy ra là vào ngày mùng một Tết âm lịch 2024, vợ chồng ông V lời qua, tiếng lại dẫn đến cãi vã. Bà T bỏ về nhà cha mẹ ruột từ đó đến nay.
- Bà T và ông V có 01 con chung là cháu Tạ Quốc D, sinh ngày 21/10/2012. Hiện cháu D đang sống cùng với bà T.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng bị đơn không tham gia nên không thể tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giải quyết cho bà Hồ Thị T ly hôn ông Tạ Quốc V. Giao cháu Tạ Quốc D, sinh ngày 21/10/2012 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông V phải cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/tháng, cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp về nuôi con, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có tài liệu, chứng cứ thể hiện sự vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Hồ Thị T và ông Tạ Quốc V tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân. Ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V ngày 07/8/2018, đăng ký kết hôn số 113. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, quá trình chung sống, vợ chồng ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn nên bà T đã yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Qua lời khai của nguyên đơn, quá trình xác minh, thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng ông bà phát sinh là do cả hai tính tình không hoà hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vã, hôn nhân không hạnh phúc. Mặt khác, Tòa án đã thông báo cho ông V lên Tòa án tham gia hòa giải nhưng ông không tham gia, chứng tỏ ông không có ý định níu kéo cuộc hôn nhân này. Từ những phân tích trên, thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, vì vậy xử cho bà T ly hôn ông V là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Tạ Quốc D, sinh ngày 21/10/2012. Thấy rằng, bà T có công việc, thu nhập ổn định, tư cách đạo đức tốt, đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; từ khi ly thân tới nay, bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và cháu D cũng mong muốn được sống cùng mẹ nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu D cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[2.3] Về cấp dưỡng: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Bà T yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/tháng. Thấy rằng, mức yêu cầu cấp dưỡng của bà T là phù hợp với mức sống tại địa phương, trong khả năng tài chính của bị đơn, đủ để đảm bảo cho cháu D phát triển bình thường về vật chất và tinh thần. Do đó, buộc ông V phải cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/tháng, cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi là phù hợp.
Đối với khoản tiền cấp dưỡng, bà T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong bản án này.
[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà T là người khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí DSST về ly hôn. Ông V là người phải cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí DSST về cấp dưỡng.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 và 85 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Về hôn nhân: Bà Hồ Thị T ly hôn ông Tạ Quốc V.
- - Về con chung: Bà Hồ Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Tạ Quốc D, sinh ngày 21/10/2012. Ông Tạ Quốc V phải cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/tháng, cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Đối với khoản tiền cấp dưỡng, bà T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí DSST:
Bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004466 ngày 08 tháng 5 năm 2024. Bà T đã nộp đủ án phí DSST.
Ông Tạ Quốc V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị T "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" Tạ Quốc V
