|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/HS-ST Ngày 24 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Thật và ông Đặng Hữu Tấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh năm 1993, tại huyện C, tỉnh An Gian; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: Nhà T, đường N, phường E, thành phố T, tỉnh Long An nghề nghiệp: Thợ xăm; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L, sinh năm 1974 và bà: Huỳnh Thị D, sinh năm 1973; có 02 anh em, bị cáo thứ nhất; bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Lý T1, sinh năm 1998 và chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31 tháng 10 năm 2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
- Bùi Văn T2, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
- Lê Thành Đ, sinh năm 1999. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
- Huỳnh Thị Thùy T3, sinh năm 2003. Địa chỉ: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
- Hồ Trọng N, sinh năm 2002. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
- Nguyễn Thành N1, sinh năm 2004. Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
- Trần Văn R, sinh năm 2004. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
- Phan Kim Q, sinh năm 2005. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 55 phút ngày 24 tháng 01 năm 2021, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội công an tỉnh A kết hợp Công an thành phố L kiểm tra hành chính quán K1 số G đường H, khóm Đ, phường Đ, thành phố L. Qua kiểm tra phát hiện tại phòng số 301 có Lê Văn T, Lê Thành Đ, Trần Văn R, Hồ Trọng N, Bùi Văn T2, Nguyễn Thanh N2, Huỳnh Thị Thùy T3, Phan Kim Q, trên ghế salon có 01 đĩa sành màu trắng, trên đĩa có 01 thẻ nhựa, 01 ống hút tự chế, chất bột màu trắng. T khai chất bột màu trắng là ma túy kay T mua để cùng sử dụng với Đ1, R, N, T2, Q, N2, T3 nên Công an lập biển bản thu giữ vật chứng.
* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
- 01 đĩa sành màu trắng, 01 thẻ nhựa có chữ YVESSAINTLAURENT, 01 ống hút tự chế bằng tờ tiền 10.000 đồng, chất bột màu trắng;
- 01 điện thoại di động hiệu Vmsart màu đen của Lê Thành Đ;
- 01 căn cước công dân tên Lê Văn T.
* Kết luận giám định số 36/KL-KTHS(MT-GT) ngày 01 tháng 3 năm 2021 của Phòng K2 Công an tỉnh A:
- 01 hộp giấy được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Lê Hoàng T4, Nguyễn Văn Đ2, Lê Thành Đ, Trần Văn R, Hồ Trọng N, Lê Văn T, Bùi Văn T2, Phan Kim Q, Nguyễn Thanh N2, Huỳnh Thị Thùy T3, Trần Dương Duy P. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt có rãnh kẹp viền màu đỏ chứa chất bột màu trắng, khối lượng 0,1431g là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,1431g.
* Các biên bản xét nghiệm tìm chất ma tuý ngày 24 tháng 01 năm 2021 của Trung tâm Y tế thành phố L, xác định: Lê Thành Đ, Trần Văn R, Hồ Trọng N, Lê Văn T, Bùi Văn T2, Nguyễn Thanh N2, Huỳnh Thị Thùy T3 dương tính Methamphetamine, MDMA. Phan Kim Q âm tính Methamphetamine, MDMA.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 20 giờ ngày 23 tháng 01 năm 2021, T, T2, Được, N, R, T3, N2 uống rượu tại phòng trọ của Được tại phường M, thành phố L. Đến 23 giờ cả nhóm bàn bạc đến quán K1 để hát karaoke thì tất cả đồng ý.
T2, Đ, N, R, T3, N2 đến quá Karaoke Sam thuê phòng 310. Riêng T cho rằng cả nhóm thống nhất đến quán K1 để sử dụng ma túy nên T gọi điện thoại cho M không rõ nhân thân mua 04 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy kay với giá 1.300.000 đồng. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi một mình đến khu vực Bệnh viện Đ3 gặp 01 người nam không rõ nhân thân nhận 01 bọc nylon có rãnh kẹp, bên trong có 04 viên thuốc lắc và ma túy kay rồi đưa cho người này 1.300.000 đồng. T đem số ma túy này đến phòng 301 quán K1. Tại đây, T để thuốc lắc trên bàn, đổ ma túy kay vào đĩa sành màu trắng, dùng thẻ nhựa cà nhuyễn rồi cùng sử dụng với R, N2, Đ, T3, T2, N khoảng 30 phút thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.
Bị can Lê Văn T khai khi uống rượu tại nhà Được thì T, T2, Được, N, R, T3, N2 thống nhất góp tiền để sử dụng ma túy, nên T đi mua ma túy đến quán K1 để sử dụng như đã nêu.
Bùi Văn T2, Hồ Trọng N, Trần Văn R, Huỳnh Thị Thùy T3, Nguyễn Thanh N2, Phan Kim Q khai khi uống rượu tại nhà Được thì T2, N, R, T3, N2 chỉ thống nhất góp tiền để hát karaoke, không bàn bạc sử dụng ma túy. Trong lúc hát karaoke, T2, N, R, T3, N2, thấy có ma túy trên bàn nên tự sử dụng.
Phan Kim Q khai khoảng 23 giờ ngày 23 tháng 01 năm 2021, T3 gọi messenger rủ Q đến phòng 301 quán K1. Khi Q vừa đến phòng thì lực lượng công an đến kiểm tra, Q không sử dụng ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 90/CT-VKSLX-HS, ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Lê Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung 2017 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị:
- + Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- + Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp được niêm phong (Vụ số 36/KLGT-PC09(MT)) ngày 01 tháng 3 năm 2021) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng K, Trần Nhân H. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi giám định, khối lượng 0,1032g là chất độc cấm lưu hành (ma túy); 01 đĩa sành màu trắng, 01 thẻ nhựa có chữ YVESSAINTLAURENT là công cụ sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 ống hút tự chế bằng tờ tiền 10.000 đồng là công cụ sử dụng ma túy.
- - Trả cho: Lê Thành Đ 01 điện thoại di động hiệu Vmsart màu đen; Lê Văn T 01 căn cước công dân tên Lê Văn T
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn T khai nhận đã thực hiện hành vi tổ chức cho T2, Được, N, R, T3, N2 sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng truy tố. Đối với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt bị cáo thống nhất, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo ăn năn về hành vi vi phạm pháp luật, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại cũng không có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, trong quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án, nên việc vắng mặt của những người này tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.
[3.1] Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định vào khoảng 20 giờ ngày 23 tháng 01 năm 2021, bị cáo T gọi điện thoại cho M không rõ nhân thân mua 04 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy kay với giá 1.300.000 đồng và cùng T2, Được, N, R, T3, N2 sử dụng tại quán karaoke S, hành vi của T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ Luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3.2] Xét về tính chất vụ án và hành vi của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy là gây tổn hại đến sức khỏe, sức lao động và biết việc sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Bị cáo đã chủ động tìm nguồn ma túy để mua sau đó mang đến quán K1 để cùng với T2, Đ, N, R, T3, N2, trong số đó có N2, R, Q chưa đủ 18 tuổi cùng sử dụng cho đến khi bị cơ quan chức năng phát hiện và bắt giữ.
[3.3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm cho tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, đã phạm vào 02 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm b; c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, cần có một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với,
M chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
T khai Lê Thành Đ, Trần Văn R, Hồ Trọng N, Bùi Văn T2, Nguyễn Thanh N2, Huỳnh Thị Thùy T3 cùng bàn bạc, thống nhất góp tiền mua ma túy cùng sử dụng nhưng R, N, T2, N2, T3 không thừa nhận, Được không rõ đang ở đâu, ngoài lời khai của T không còn chứng cứ khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Văn T đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn T không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp được niêm phong (Vụ số 36/KLGT-PC09(MT)) ngày 01 tháng 3 năm 2021) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng K, Trần Nhân H; 01 đĩa sành màu trắng, 01 thẻ nhựa có chữ YVESSAINTLAURENT là công cụ sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 ống hút tự chế bằng tờ tiền 10.000 đồng là công cụ sử dụng ma túy.
- - Trả cho: Lê Thành Đ 01 điện thoại di động hiệu Vmsart màu đen; Lê Văn T 01 căn cước công dân tên Lê Văn T.
Tất cả các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2024.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: Điểm b;c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên xử:
[1] Bị cáo Lê Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 31 tháng 10 năm 2023.
[2] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp được niêm phong (Vụ số 36/KLGT-PC09(MT)) ngày 01 tháng 3 năm 2021) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng K, Trần Nhân H; 01 đĩa sành màu trắng, 01 thẻ nhựa có chữ YVESSAINTLAURENT; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 ống hút tự chế bằng tờ tiền 10.000 đồng là công cụ sử dụng ma túy; trả cho Lê Thành Đ 01 điện thoại di động hiệu Vmsart màu đen và Lê Văn T 01 căn cước công dân tên Lê Văn T. Tất cả các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày ngày 24/5/2024.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đức Anh |
Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 86/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
