|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 86/2024/HS-ST Ngày 24-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Văn Bình
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 379/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn T1 (tên gọi khác Đoàn Văn B), sinh ngày 09 tháng 6 năm 1981, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Số A tổ Đ (nay là số A, tổ dân phố số D) phường Q, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Tổ G thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn H (đã chết) và bà Phan Thị T; bị cáo có vợ Lê Thị H1 và 01 con; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Án số 04 ngày 15/02/2001, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án); bị bắt, tạm giữ ngày 16/01/2024, tạm giam ngày 19/01/2024; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị T, sinh năm 1949. Nơi cư trú: Số A tổ dân phố số D, phường Q, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 45 phút ngày 16/01/2024, tổ công tác Công an phường V làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực đường T, phường V, quận L, Hải Phòng phát hiện Đoàn Thanh Bình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16R6-4312 đi từ đường ngõ E T ra có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy nên tiến hành dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, B tự ngã ra đường, trong túi áo khoác bên trái của B rơi ra 01 vỏ bao thuốc lá T2 màu vàng, cách vị trí B ngã khoảng 1,5 m. Tổ công tác kiểm tra bên trong vỏ bao thuốc lá T2 có 01 gói giấy nhỏ kích thước khoảng 01cm x 2,5cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa B cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của B 01 xe mô tô biển kiểm soát 16R6-4312.
Tại Kết luận giám định số 74/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,16 gam, loại Heroine.
Quá trình điều tra, Đoàn Thanh B1 khai nhận: khoảng 08h30’ ngày 16/01/2024, B1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16R6-4312 đến khu vực đường T, quận L, Hải Phòng để tìm mua ma túy mục đích sử dụng cho bản thân. Tại đây, B1 gặp 01 nam giới (không rõ lai lịch) hỏi B1 có cùng mua ma túy chung không. B1 trả lời có rồi điều khiển xe đi theo người nam giới này vào ngõ E T. Khi vào ngõ, B1 đưa cho người nam giới 100.000 đồng để góp tiền mua ma túy chung. Người nam giới nhận tiền và bảo B1 đứng đợi còn người nam giới đi vào sâu trong ngách. Khoảng 03 - 05 phút sau, người nam giới đi ra, nhặt vào trong túi áo khoác phía ngoài bên trái B1 đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và nói “của mày đây”. Lúc này, B1 biết trong vỏ bao thuốc lá có chứa ma túy Heroin nên điều khiển xe môtô đi ra khu vực đầu ngõ E T thì bị lực lượng Công an kiểm tra, do hoảng sợ nên B1 đã tự ngã và làm rơi vỏ bao thuốc lá chứa Heroine vừa mua được xuống dưới đất. Tổ công tác đưa B1 cùng vật chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Ngoài ra, B1 còn khai: B1 không quen biết, không có quan hệ từ trước với nam giới cùng mua chung ma túy. B1 không bàn bạc, thỏa thuận về việc mua ma túy với người nam giới này. Chỉ đến khi gặp người nam giới tại khu vực chân tàu Trần Nguyên H2, thấy người nam giới có biểu hiện nghiện giống mình thì B1 mới đồng ý cùng người này góp tiền mua ma túy.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định, 01 xe mô tô biển kiểm soát 16R6-4312.
Đối với người nam giới đã cùng bị can mua chung ma túy ngày 16/01/2024, do bị cáo không biết lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, làm rõ.
Quá trình điều tra, bị cáo khai đã nhiều lần mua và sử dụng ma túy. Tài liệu điều tra chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo, ngoài ra, Cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ khác nên không đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với bị
2
cáo về tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKSLC ngày 23/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đoàn Thanh B1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Đoàn Thanh B1 khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Đoàn Thanh B1 ( tên gọi khác Đoàn Văn B) với mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định có số 74MT/PC09. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe máy mô tô màu đỏ đen có 01 gương chiếu hậu nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 16R6-4312 xe cũ đã qua sử dụng. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đoàn Thanh B1 đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,16 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh
3
nhiều loại tội phạm hình sự khác, nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã được xóa vì vậy cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng:
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
- Về hình phạt:
[7] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về việc xử lý vật chứng:
[9] Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định có số 74MT/PC09 là vật cấm tàng trữ, lưu hành.
+ Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 16R6-4312 là phương tiện phạm tội do bị cáo sử dụng để đi mua ma túy, bị cáo và bà Phan Thị T là (mẹ của bị cáo) trình bày bà T bỏ tiền ra mua xe, nhưng do thất lạc giấy tờ tùy thân nên bà T không đứng tên Giấy đăng ký xe mô tô mà nhờ bị cáo đứng tên hộ vì vậy để ngoài trả lại xe mô tô cho bà T. Hội đồng xét xử xét thấy ngoài lời khai của bị cáo và bà T thì không có tài liệu chứng minh chiếc xe mô tô trên là của bà T nên không có căn cứ trả lại xe mô tô cho bà T mà cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Về án phí:
[10] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
[11] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đoàn T1 (tên gọi khác Đoàn Văn B) 18
4
(mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2024.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định có số 74MT/PC09.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe máy mô tô màu đỏ đen có 01 gương chiếu hậu nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 16R6-4312 xe cũ đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đoàn Thanh B1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Đoàn Thanh B1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình về phần tài sản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hương |
5
Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 86/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Thanh B
