|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2023/HS-ST Ngày 22 tháng 11 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Sang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng Nghiệp và ông Phan Phước Tân.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Trúc Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên toà: Ông Hồ Nguyễn Thiết Bảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 241/2023/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Phú S (Mèo), sinh năm: 1994; nơi cư trú: Ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; mẹ nuôi: Trần Thị L; không xác định được cha mẹ ruột của bị cáo; bị cáo chưa có vợ con; Ngày 28/6/2023, bị Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, tỉnh An Giang xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản ”; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Trần Văn C, sinh năm: 1964; địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1968; (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 2000. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa 27/6/2023, Trần Phú S đi bộ nhặt ve chai đến khu vực nhà ông Trần Văn C (thuộc tổ G, ấp T, xã K, huyện A) thì thấy cổng rào nhà ông C không khóa, nhà để xe có 01 xe đạp (loại xe thể thao) màu đen, nên S vào lấy trộm xe đạp. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, ông C phát hiện xe đạp bị mất trộm nên đến Công an xã trình báo sự việc. Qua xác minh, lực lượng Công an tiến hành truy tìm và phát hiện Trần Phú S cùng tang vật bị mất trộm nên mời về trụ sở làm việc. Qua làm việc, S thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm nên lực lượng tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe đạp thể thao màu đen, khung nhôm có in dòng chữ KON'S collection, đã qua sử dụng
Bị hại ông Trần Văn C trình bày phù hợp nội dung vụ án. Hiện ông C đã nhận lại tài sản bị lấy trộm, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn M, trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 121/KL-HĐĐG.TTHS ngày 11/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh An Giang xác định: 01 (một) xe đạp thể thao màu đen, khung nhôm có in dòng chữ KON’S collection, đã qua sử dụng, có giá 2.083.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ.
Tại Cáo trạng số 76/CT-VKSTT- HS ngày 26 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đã truy tố Trần Phú S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại cơ quan điều tra và phiên toa sơ thẩm bị cáo Trần Phú S khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Bị hại và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Phú S từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không nghề nghiệp nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho bị hại và bị hại cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã xử lý đúng theo quy định nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại, những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy: Những người tham gia tố tụng vắng mặt đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Phú S đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng tang vật đã thu giữ, căn cứ vào kết luận định giá tài sản số: 121/KL-HĐĐG.TTHS ngày 11/7/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện A và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Trưa ngày 27/6/2023 Trần Phú S đã có hành vi lén lút vào nhà để xe của ông C lấy trộm 01 xe đạp thể thao màu đen, khung nhôm có in dòng chữ KON’S collection, đã qua sử dụng, trị giá 2.083.000 đồng. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp đủ định mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được các tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là tài sản hợp pháp của ông C nhưng vẫn lét lút lấy trộm là thể hiện ở lỗi cố ý trực tiếp nên Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” là đúng người đúng tội và phù hợp với pháp luật.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 28/6/2023, bị Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, tỉnh An Giang xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản ".
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, trình độ học vấn thấp. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi đối chiếu về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo thì hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật bằng hình thức cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Thống nhất với quan điểm Kiểm sát viên là bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Tại giai đoạn điều tra – Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã trả lại tài sản cho bị hại là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét.
[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Phú S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Trần Phú S 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/8/2023.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Phú S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/11/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sang |
6
Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 86/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Phú S phạm tội (k1 điều 173)
