|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, TP. H NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc L - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2023/HSST. Ngày: 23/10/2023 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O – TP H NỘI |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Bá N – Bí thư đoàn xã Đỗ Đ
- Bà Nguyễn Thị Nguyệt
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Anh Bích - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh O;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân T phố H Nội; xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 80/2023/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023 ngày 11 tháng 10 năm 2023, dưới hình thức xét xử trực tuyến, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Quang C, sinh ngày 11/7/2006 (giới tính: nam); ĐKHK và nơi ở: Thôn Châu M, xã Liên C, huyện Thanh O, TP H Nội; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Bố đẻ: Đào Quang P; Mẹ đẻ:Quách Thị N; Chưa có vợ, con; Gia đình có 02 anh, em bị cáo là con thứ nhất; Danh chỉ bản số: 286/2023 do Công an huyện Thanh O L ngày 10/8/2023.
Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an T phố H Nội. Bị cáo có mặt tại phòng trực tuyến trại tạm giam số 01 Công an T phố H Nội theo lệnh trích xuất của tòa án.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà D Thị Hiền, sinh năm 1981- Trợ giúp viên pháp lý- thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nH nước T phố H Nội:
Người đại diện theo pháp luật:
- Bà Quách Thị N (mẹ bị cáo C), sinh năm 1975
- Ông Đào Quang P (Bố bị cáo C), sinh năm 1971
Đều trú tại: Thôn Châu M, xã Liên C, huyện Thanh O, T phố H Nội.
(Tại phiên tòa: Bà Hiền, bà N có mặt. Ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Đào Quang C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, T phố H Nội truy tố về Hnh vi phạm tội như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa Lê Văn H (sinh năm: 2005, trú tại thôn Kim C, xã Kim T, huyện Thanh O, T phố H Nội) với một nhóm thanh niên xã Tam H (chưa xác định Đ). H đã nhắn tin, điện thoại kêu gọi, rủ rê nhiều thanh niên trong và ngoài địa bàn huyện Thanh O thực hiện 02 vụ gây rối trật tự công cộng. Trong đó, Đào Quang C, sinh ngày: 11/7/2006, trú tại thôn Châu M, xã Liên C, huyện Thanh O, TP H Nội tham gia 01 vụ gây rối trật tự công cộng vào ngày 21/4/2023.
Ngày 21/4/2023, H kêu gọi, rủ bạn bè tham gia đánh nhau với nhóm thanh niên xã Tam H. Có các đối tượng tham gia gồm: H, Lê Quốc Đ, Phạm Nguyễn T, Trần Khánh D, Phạm Tuấn K, Nguyễn Văn B, Lê T Đ (sinh ngày 02/02/2006, trú tại: thôn Mỗ X, xã Phú Nam A, huyện Chương M, TP H Nội), Nguyễn Văn H (sinh ngày 09/4/2007), Phạm D C (sinh ngày 17/02/2008), đều trú tại: thôn Hai N, xã Văn V, huyện Chương M, T phố H Nội; Tạ Quang T (sinh ngày 04/6/2007, trú tại: thôn Chung C, xã Phương T), Lê Đình D (sinh ngày 15/11/2005), Lê Việt H (sinh ngày 28/8/2005), đều trú tại: thôn Quang T, xã Phương T, huyện Thanh O; Chu Bá L (sinh ngày 24/5/2005, trú tại: thôn Kim B, Thị trấn Kim B, huyện Thanh O), H Tuấn N (sinh ngày 02/8/2005, trú tại: thôn Cát Đ, Thị trấn Kim B, huyện Thanh O), Nguyễn Đình Trường S (sinh ngày 14/02/2005, trú tại: thôn Văn Q, xã Đỗ Đ, huyện Thanh O), Đào Quang C (sinh ngày 11/7/2006, trú tại: thôn Châu M, xã Liên C, huyện Thanh O), Nguyễn Thư Đ (sinh ngày 10/7/2006, trú tại: thôn Áng P, xã Cao D, huyện Thanh O), và Phạm Nhất C (sinh ngày 25/8/2005, trú tại: thôn Làng H, xã Hoàng D, huyện Chương M).
Khoảng 19 giờ ngày 21/4/2023, Đạt chở H đi mua dao bầu rồi mượn máy Hn xì kim loại mang về trang trại của gia đình T để chế tạo phóng lợn mang đi đánh nhau. Tại trang trại của gia đình T, Đ là người trực tiếp sử dụng máy Hn để Hn các lưỡi dao nhọn (dạng dao bầu) vào một đầu tuýp sắt chế tạo T 06 cây phóng lợn (dài khoảng gần 3 mét), mang đi cất giấu ở ngoài bờ ruộng gần đường Quốc lộ B để thuận tiện cho việc lấy mang đi đánh nhau.
Sau đó, H rủ một số đối tượng đi đón Chu Bá L, Nguyễn Đình Trường S, H Tuấn N, Đào Quang C ở khu vực quận H Đông về huyện Thanh O để tham gia cùng nhóm H để đi đánh nhau. Riêng Phạm Nhất C, B, Khải trong thời gian tập trung và đi đổ xăng, Cao, B, Khải đã bỏ về trước không tham gia cùng nhóm H. Sau khi đón Đ nhóm của L về khu vực xã Phương T để tập trung, thì xe mô tô Đạt chở H bị một nhóm thanh niên đi khoảng 03-04 xe máy đuổi đánh về hướng xã Dân Hòa nhưng chạy Đ nên không bị đánh. Đạt và H nghi ngờ nhóm đuổi đánh mình là nhóm nam thanh niên ở xã Tam H (chưa xác định Đ là nhóm nào) nên H gọi cho các bạn trong nhóm lấy hung khí, tìm đánh trả thù. Sau đó các đối tượng đi lấy 06 cây phóng lợn cất giấu ở bờ ruộng, phân phát cho nhau và sử dụng 07 xe máy chở nhau gồm: Lê Quốc Đ chở Lê Văn H ngồi sau cầm theo phóng lợn, Lê T Đ chở Tạ Quang T ngồi sau cầm theo phóng lợn, Phạm Nguyễn T chở Trần Khánh D ngồi sau cầm phóng lợn; Nguyễn Thư Đ chở Lê Đình D ngồi sau cầm phóng lợn, Chu Bá L chở Nguyễn Đình Trường S ngồi sau cầm phóng lợn, Phạm D C chở Nguyễn Văn H, Lê Việt H ngồi sau cầm 01 phóng lợn và H Tuấn N chở Đào Quang C ngồi sau, xe này không cầm phóng lọn.
Các đối tượng điều khiển xe máy đi gần nhau, cầm theo hung khí đi theo tuyến đường quốc lộ B đến Thị trấn Kim B rẽ vào Đường Muỗi đi thẳng ra tuyến đường tỉnh lộ 427B, di chuyển theo đường 427B qua xã Tam H đến Ngã ba Bình Đ thuộc địa phận xã Bình M, huyện Thanh O rồi quay lại đi về xã Tam H. Trên đường đi các đối tượng dàn xe Hng ngang 3-4, lạng lách, nẹt pô, bấm còi, dú ga, đánh võng, không đội mũ B hiểm, lấy khẩu trang bịt biển số xe hoặc tháo biển số xe, đi tốc độ cao, tay cầm phóng lợn, gây náo loạn nhiều tuyến đường và khu dân cư xung quanh, gây sợ hãi cho người đi đường. Sau khi đi Đ 01 vòng quanh xã Tam H, nhưng không tìm thấy nhóm thanh niên xã Tam H. Lúc này, Nguyễn Thư Đ điều khiển xe máy chở Lê Đình D tách đoàn đi đổ xăng tại cây xăng trên đường Cienco 5, sau đó, quay lại không gặp nhóm của H nữa nên Đ điều khiển xe máy chở D bỏ về nH. Để tránh lực lượng Cảnh sát cơ động đi tuần tra phát hiện, D đã vứt phóng lợn ở ven đường khi đi trên đường 427B đoạn thuộc địa phận xã Tam H. Còn nhóm của H tiếp tục đi vòng quanh xã Tam H 01 - 02 vòng nữa để tìm nhóm thanh niên Tam H nhưng không thấy nên dừng xe tại đường 427B đoạn gần quán bia Lũy Tre Làng thuộc địa phận thôn Song K, xã Tam H.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Văn T (sinh năm 2000, trú tại: thôn Võ L, xã Văn V, huyện Chương M) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen - xám, BKS: 29X2 - 01*** chở anh Đỗ Văn B (sinh năm 2004, ở cùng thôn) và anh Nguyễn Văn C (sinh năm 2003, là em trai anh T) ngồi sau đi từ nH ở thôn Võ L, xã Văn V, huyện Chương M đến quận Đống Đa, T phố H Nội để đi làm. Khi thấy xe của anh T đi qua, thì H hô hoán cả nhóm đuổi theo để đánh nhóm anh T, anh T điều khiển xe mô tô bỏ chạy vào phía trong làng Đ khoảng 200 mét thì bị nhóm của H đuổi kịp, chặn xe anh T lại. Tại đây H, D, T, Sơn, L, người cầm phóng lợn, người dùng tay chân đánh gây thương tích cho anh T, B và C. Sau đó, H và Tạ Quang T dùng phóng lợn vụt, đập làm hư hỏng chiếc xe máy BKS: 29X2 - 01*** của anh C. Sau đó nhóm của H đi về, còn các anh T, B, C bị thương Đ người dân đưa đi cấp cứu, chữa trị tại Bệnh viện Quân y 103. Công an xã Tam H sau khi nhận thông tin phản ánh của người dân về vụ việc đã đến hiện trường ghi nhận sự việc, tạm giữ chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen - xám, BKS: 29X2 - 01*** bị hư hỏng, Đ phát hiện bị bỏ lại ở hiện trường.
Ngày 22/4/2023, Ủy ban nhân dân các xã Phương T, xã Kim T, xã Tam H, xã Bình M và UBND thị trấn Kim B, huyện Thanh O, T phố H Nội có văn bản kiến nghị đến Công an huyện Thanh O đề nghị xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật đối với nhóm thanh thiếu niên tụ tập điều khiển xe máy chở 2-3 người, dàn Hng ngang, bấm còi inh hỏi, lạng lách, đánh võng, mang theo hung khí nguy hiểm là phóng lợn (tuýp kim loại Hn dao nhọn), đi trên tuyến đường Quốc lộ B, đường Cienco 5 và các tuyến đường liên thôn xã, gây náo loạn khu dân cư xung quanh, làm người dân đi đường sợ hãi và gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát: 29X7- 616.50, số khung: RLHJK0313NY510***, số máy: JK03E2515*** (do bà Trần Thị H là mẹ bị can Nguyễn Văn B giao nộp).
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu cam, biển kiểm soát: 29X7- 56***, số khung: RLHJA3918LY298***, số máy: JA39E1637*** (do ông Phạm Lương H là bố đẻ của Phạm Lương T giao nộp).
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, số khung: RLHJA3928NY039***, số máy: JA39E2535***, biển kiểm soát 29X7-62*** (do ông Phạm Xuân N là bố đẻ của Phạm Nguyễn T giao nộp).
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh, biển kiểm soát: 29X7- 60***, số khung: MH1JM5118MK743***, số máy: JN51E1742*** (do bà Phạm Thị Q làm mẹ đẻ của Lê Quang Đ giao nộp).
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát: 29X7- 604.23, số khung: RLHJA3926MY***667, số máy: JA39E2382*** (do Nguyễn Thư Đ giao nộp).
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát: 29X2- 031.72, số khung: RLHJA3926MY470***, số máy: JA39E24***00 (do Phạm Nhất C giao nộp).
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 29X7- 695.55, số khung: RLHJA3921NY432516, số máy: JA39E2856759 (do bị can H Tuấn N giao nộp).
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, số khung: RLHJA3905HY172***, số máy: JA39E0172***, không đeo biển kiểm soát, không yếm (xe của bị can Đào Quang C do bị can Sơn giao nộp).
- - 02 (hai) đoạn tuýp kim loại dài 2,95m, đường kính 2,1cm (do Tạ Quang T giao nộp).
- - 02 (hai) đoạn tuýp kim loại dài 2,95m, đường kính 2,1cm; một đầu Đ Hn lưỡi dao bầu dài 21cm, bàn rộng nhất 6,5cm, mũi dao nhọn (do Tạ Quang T giao nộp).
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3340/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn T:
2.1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể
Đối chiếu Bảng 1- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban Hnh kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau:
- - Sẹo kích thước nhỏ tại mặt gan khớp liên đốt 2,3 ngón V, bàn tay phải, kích thước nhỏ: 01% (áp dụng nguyên tắc chung 2, Chương VII và nguyên tắc 1, Mục I.1, Chương 8).
- - Sẹo mặt gan khớp liên đốt 1,2 ngón IV, kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc chung 2, Chương VII và Nguyên tắc 1, Mục I.1, Chương 8).
- - Sẹo mu khớp bàn ngón III, bàn tay phải, kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc chung 2, Chương VII và Nguyên tắc 1, Mục I.1, Chương 8).
- - Sẹo mặt gan khớp bàn ngón II, bàn tay pải, kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc 1, Mục I.1, Chương 8).
- - Sẹo mặt sau cổ tay phải kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc 1, Mục I.1, Chương 8).
- - Sẹo mặt ngoài 1/3 giữa đùi phải kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là: 06% (Sáu phần trăm).
2.2. Cơ chế hình T thương tích
Các tổn thương của anh Nguyễn Văn T do vật sắc hoặc sắc nhọn gây nên.”
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3341/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đỗ Văn B:
“2.1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể
Đối chiếu Bảng 1 – Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban Hnh kèm thoe Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau:
- - Sẹo lưng phải kích thước trung bình: 02% (áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục 1.2, Chương 8).
- - 03 sẹo cẳng tay trái kích thước nhỏ: mỗi sẹo 01% (áp dụng Nguyên tắc 1 và mục I.1, Chương 8).
- - Sẹo cẳng chân trái kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc 1 và mục I.1, Chương 8).
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đỗ Văn B tại thời điểm giám định là: 06% (sáu phần trăm).
2.2. Cơ chế hình T thương tích
Các tổn thương của anh Đỗ Văn B do vật sắc hoặc sắc nhọn gây nên.”
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3339/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn C:
2.1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể
Đối chiếu Bảng 1 – Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban Hnh kèm thoe Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau:
- - Sẹo mặt trước trong 1/3 trên cẳng chân phải kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).
- - Sẹo mông trái kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc 1 và mục I.1, Chương 8).
- - Sẹo mu bàn tay trái kích thước nhỏ: 01% (áp dụng Nguyên tắc 1 và mục I.1, Chương 8).
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn C tại thời điểm giám định là: 03% (ba phần trăm).
2.2. Cơ chế hình T thương tích
Tổn thương vùng bàn tay trái, cẳng chân phải, mông trái do vật sắc hoặc sắc nhọn gây nên.
- Các vùng khác không còn dấu vết thương tích nên không có cơ sở xác định cơ chế hình T thương tích.”
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 11/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện Thanh O, kết luận:
“Phần cánh yếm bên trái của 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH150 màu đen – xám, Biển kiểm soát 29X2-01***, số khung RLHK4210MY013***, số máy KF42E1061***, đăng ký lần đầu 20/01/2022 (tài sản đã qua sử dụng) có giá trị: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).”
Quá trình điều tra vụ án, C bỏ trốn khỏi địa phương và bị Cơ quan CSĐT ra Lệnh truy nã. Ngày 09/8/2023 C bị bắt theo lệnh truy nã.
Về thương tích của anh T, anh C, anh B: ngày 27/6/2023, anh T, anh C, anh B đã có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng đã gây thương tích cho mình và không yêu cầu các đối tượng phải bồi thường thêm bất kỳ một khoản chi phí nào. Việc anh T, anh C, anh B rút đơn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Đối với Hnh vi có tính chất vi phạm Hnh chính của các bị can, đối tượng liên quan trong vụ án. Công an huyện Thanh O đã ra Quyết định xử phạt vi phạm Hnh chính trong vụ án trước, nên không đề cập trong vụ án này.
Đối với Hnh vi của các đối tượng gồm Lê Văn H, Phạm Nguyễn T, Trần Khánh D, Lê Đình D, Nguyễn Thư Đ, Lê Quốc Đ, Lê T Đ, Lê Việt H, Phạm Lương T, Nguyễn Văn B, Phạm Tuấn K, Tạ Đức C, Nguyễn Đình Trường S, Nguyễn Văn H, Chu Bá L, H Tuấn N đã bị xét xử vào ngày 31/8/2023, nên không đề cập trong vụ án này.
Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O truy tố bị cáo Lê Đào Quang C về tội: tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự;
Kiểm sát viên thực Hnh quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu và điều luật đã viện dẫn, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- * Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 BLHS đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo: Đào Quang C mức án từ 15- 18 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX: Tịch thu phát mại sung quỹ nH nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, số khung: RLHJA3905HY172***, số máy: JA39E0172***, không đeo biển kiểm soát, không yếm (xe của bị cáo Đào Quang C).
Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý NH nước T phố H Nội bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bởi bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, phạm tội do không nhận thức đầy đủ về pháp luật, T khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị cho bị cáo Đ hưởng mức án thấp hơn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Người đại diện theo pháp luật cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã Đ thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, lời khai của bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, về Hnh vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án; khởi tố bị can; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; áp dụng biện pháp tạm giam. Về các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai của bị hại; thu giữ vật chứng, kết luận giám định; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Đ thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với các bị can.
Đối với sự vắng mặt của người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến Hnh xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa Lê Văn H với một nhóm thanh niên xã Tam H, H đã hô Ho, rủ bạn bè trong và ngoài địa bàn huyện Thanh O thực hiện Hnh vi Gây rối trật tự công cộng trên địa bàn huyện Thanh O.
Ngày 21/4/2023 Lê Văn H, Phạm Nguyễn T, Trần Khánh D, Lê Đình D, Nguyễn Thư Đ, Lê Quốc Đ, Lê T Đ, Lê Việt H, Phạm Lương T, Nguyễn Văn B, Phạm Tuấn K, Tạ Đức C, Nguyễn Đình Trường S, Nguyễn Văn H, Chu Bá L, H Tuấn N, Đào Quang C có Hnh vi điều khiển xe mô tô không đội mũ B hiểm, mặc áo chống nắng che kín đầu, đeo khẩu trang, tháo biển số xe hoặc dùng khẩu trang bịt biển số xe, cầm theo hung khí nguy hiểm là tuýp sắt Hn dao nhọn dài 2,95 mét (Phóng lợn), lạng lách, đánh võng, đi dàn Hng 3-4, rú ga, bấm còi inh ỏi, đi với tốc độ cao trên đường làng, đường liên thôn, đường Quốc lộ B, Cienco 5 thuộc khu vực địa bàn các xã Kim T, xã Phương T, xã Tam H, xã Mỹ Hưng, thị trấn Kim B, xã Bình M mục đích tìm nhóm thanh niên xã Tam H để đánh nhau. Hnh vi của các đối tượng đã gây mất an ninh trật tự khu dân cư, người dân đi lại hoang mang lo sợ, gây mất ổn định, kỷ luật nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự, thì Hnh vi của Đào Quang C đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Về tính chất vụ án: Vai trò của bị cáo trong vụ án: bị cáo C tham gia gây rối trong 1 ngày 21/4/2023, bản thân sử dụng xe máy của bản thân tham gia gây rối cùng các đối tượng khác, C không cầm hung khí khi tham gia gây rối. Quá trình điêu tra bị cáo C trước đó đã trốn truy nã và bị bắt theo lệnh truy nã.
Đối với các đối tượng khác của vụ án đã Đ đánh giá và xét xử ngày 31/8/2023 nên không xem xét trong bản án này.
Bị cáo C phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nên cần áp dụng quy định đối với người chưa T niên phạm tội quy định tại Điều 91, 101 BLHS.
Vì vậy căn cứ vào tính chất mức độ, Hnh vi phạm tội, nhân thân của bị cáo C, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo C.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
* Những nội dung khác liên quan đến vụ án: Không xem xét
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Quang C phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
- Về Điều luật áp dụng hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đào Quang C 15 (mười năm) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tịch thu phát mại sung quỹ nH nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, số khung: RLHJA3905HY172***, số máy: JA39E0172***, không đeo biển kiểm soát, không yếm (xe của bị cáo Đào Quang C).Theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/10/2023 giữa chi cục thi Hnh án dân sự với Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thanh O.
- * Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 23/10/2023.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Tiến Dũng |
Bản án số 86/2023/HSST ngày 23/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, TP. H NỘI về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 86/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, TP. H NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng (Đào Quang C)
