|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/HS - ST Ngày: 29-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quang Phong
Ông Nguyễn Văn Bẩy
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2023/TLST - HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 64/2024/QĐHPT ngày 23 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H; sinh ngày 14/01/1969, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến B và bà Đoàn Thị Thanh N; chồng: Phùng Đình C (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 1992; tiền án: ngày 06/5/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo Điều 185 Bộ luật Hình sự năm 1985, ngày 30/8/2005 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thi hành xong phần hình phạt bổ sung; tiền sự: không; nhân thân: ngày 22/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Đông Triều xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 24/12/2016, đã chấp hành xong Bản án. Bị cáo bị giữ, bị bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 30/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Ngô Văn D, sinh năm 1976; nơi cư trú: khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Vũ Văn T, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt
- Anh Lê Hoàng N1, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt
- Chị Bùi Thu H1, sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt
- Chị Phạm Thị Hồng T1, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn Đ, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1969; nơi cư trú: thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt
- Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1977; nơi cư trú: tổ A, khu D, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người chứng kiến: anh Ngô Trung Đ1, anh Vũ Quyết T2; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do biết có nhiều người có nhu cầu vay tiền nên từ năm 2020, Nguyễn Thị Thu H đã cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao. Khi cho vay, H không yêu cầu người vay phải thế chấp, cầm cố tài sản, chỉ viết giấy biên nhận vay tiền hoặc ký xác nhận vào sổ do H quản lý. Các khoản vay được H ghi vào sổ theo dõi về số tiền gốc vay, mức lãi suất, thời điểm vay, thời điểm trả để phục vụ việc thu tiền gốc, lãi. Tuỳ theo mối quan hệ, H ấn định mức lãi suất đối với từng người vay khác nhau: 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày (tương đương 109,5%/năm), 3.300 đồng/01 triệu/01 ngày (tương đương 120%/năm) hoặc 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày (tương đương 182,5%/năm). Có trường hợp, khi cho vay, H cắt lãi của tháng đầu đối với khoản vay nên chỉ chuyển cho người vay số tiền gốc còn lại sau khi đã trừ đi tiền lãi của tháng đầu. Việc cho vay và thu tiền lãi được H và người vay thực hiện qua các hình thức đưa tiền mặt trực tiếp hoặc chuyển qua tài khoản số 7676962689999 tại ngân hàng TMCP Q1 (M). Khi đến hạn trả lãi, nếu người vay chưa kịp trả thì H gọi điện, nhắn tin hoặc trực tiếp đến nhà người vay để yêu cầu trả nợ.
Theo đó, từ tháng 11/2020 đến tháng 8/2023, H đã cho 07 người vay tổng số 549.000.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu được là 48.860.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 39.088.000 đồng); tiền lãi đến hạn nhưng chưa thu được là 695.300.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 556.240.000 đồng). Cụ thể như sau:
1. Từ tháng 11/2020 đến tháng 6/2022, H cho anh Ngô Văn D vay 08 lần, với tổng số 270.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, thoả thuận trả lãi hằng tháng, cụ thể:
- Ngày 02/11/2020 vay 40.000.000 đồng;
- Ngày 28/12/2020 vay 60.000.000 đồng;
- Ngày 22/7/2021, vay 50.000.000 đồng;
- Ngày 31/8/2021, vay 25.000.000 đồng;
- Ngày 16/10/2021, vay 10.000.000 đồng;
- Ngày 16/11/2021, vay 15.000.000 đồng;
Các khoản vay trên được H ghi vào sổ theo dõi, đến khoản vay ngày 16/11/2021 H yêu cầu anh D ký xác nhận vào sổ, đến nay anh D chưa trả gốc và lãi cho 06 khoản vay trên.
- Ngày 14/3/2022, anh D tiếp tục vay 50.000.000 đồng, đến ngày 16/5/2022, anh D đã trả 4.500.000 đồng tiền lãi của khoản vay này.
- Ngày 20/6/2022, anh D vay thêm 20.000.000 đồng, đến tháng 7/2022 anh D đã trả 2.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay này.
Do anh D không trả được tiền lãi hàng tháng và tiền gốc của các khoản vay trên, nên ngày 30/8/2023, Hà cộng và chốt số tiền anh D còn nợ là 878.100.000 đồng, trong đó tiền gốc là 270.000.000 đồng, tiền lãi 608.100.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền lãi anh D phải trả cho tổng số 8 khoản vay nêu trên (tính đến ngày 30/8/2023) là 614.600.000 đồng; trong đó tổng tiền lãi đã trả 6.500.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 5.200.000 đồng), tiền lãi đến hạn nhưng chưa trả là 608.100.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 486.480.000 đồng). Hiện anh D còn nợ 270.000.000 đồng tiền gốc vay.
2. Ngày 21/11/2022, H cho anh Vũ Văn T vay 70.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, H đưa cho anh T 50.000.000 đồng tiền mặt và chuyển 20.000.000 đồng vào tài khoản số [...] tại ngân hàng V1 của anh T, rồi yêu cầu anh T ký xác nhận việc vay tiền trên vào sổ của H. Đến ngày 21/01/2023, anh T đã trả 02 tháng tiền lãi với tổng số tiền 12.600.000 đồng bằng tiền mặt (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 10.080.000đ), tiền lãi đến hạn nhưng chưa trả là 63.000.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 50.400.000 đồng). Hiện anh T còn nợ 70.000.000 đồng tiền gốc vay.
3. Ngày 07/01/2023, H cho anh Lê Hoàng N1 vay 20.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, H ghi khoản vay của anh N1 vào sổ theo dõi. Đến tháng 3/2023, anh N1 đã trả 6.000.000 đồng tiền lãi của 2 tháng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 4.800.000 đồng). Đến ngày 27/7/2023, anh N1 đã trả cho H 20.000.000 đồng tiền gốc. Tiền lãi đến hạn nhưng chưa trả là 10.000.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 8.000.000 đồng).
4. Tháng 10/2022, H cho chị Bùi Thị H2 vay 6.000.000 đồng với lãi suất 3.300 đồng/01 triệu/01 ngày, theo đó, mỗi tháng chị H2 phải trả 600.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 30/8/2023, chị H2 đã trả tiền lãi của 07 tháng là 4.200.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 3.360.000 đồng), còn 03 tháng tiền lãi đến hạn nhưng chưa trả là 1.800.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 1.440.000 đồng). Hiện chị chưa trả tiền gốc vay.
5. Từ ngày 25/6/2022 đến ngày 27/10/2022, H cho chị Phạm Thị Hồng T1 vay 08 lần với tổng số tiền 113.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày ngày. Việc cho vay và thu lãi có lần bằng tiền mặt, có lần chuyển khoản, cụ thể:
- Ngày 25/6/2022, chị T1 vay 20.000.000 đồng, đến ngày 15/8/2022 chị T1 đã trả hết tiền gốc vay và trả 3.000.000 đồng tiền lãi (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 2.400.000 đồng).
- Ngày 04/7/2022, chị T1 vay 15.000.000 đồng, đến ngày 15/8/2022 chị T1 đã trả hết tiền gốc vay và 1.845.000 đồng tiền lãi của khoản vay này (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 1.476.000 đồng).
- Ngày 25/7/2022, chị T1 vay 5.000.000 đồng, đến ngày 15/8/2022 chị T1 đã trả hết tiền gốc vay và trả 300.000 đồng tiền lãi của khoản vay này (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 240.000 đồng).
- Ngày 08/8/2022, chị T1 vay 13.000.000 đồng, đến ngày 15/8/2022, chị T1 đã trả hết tiền gốc vay và trả 273.000 đồng tiền lãi của khoản vay này (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 218.400 đồng).
- Ngày 31/8/2022, chị T1 vay 2.000.000 đồng, đến ngày 15/9/2022, chị T1 đã trả hết tiền gốc vay và trả 90.000 đồng tiền lãi của khoản vay này (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 72.000 đồng).
- Ngày 02/9/2022, chị T1 vay 18.000.000 đồng, đến ngày 15/9/2022 chị T1 đã trả hết tiền gốc vay và trả 702.000 đồng tiền lãi của khoản vay này (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 561.600 đồng).
- Ngày 05/10/2022, chị T1 vay 30.000.000 đồng, đến ngày 15/10/2022 chị T1 đã trả hết tiền gốc vay và trả 900.000 đồng tiền lãi của khoản vay trên (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 720.000 đồng).
- Ngày 27/10/2022, chị T1 vay 10.000.000 đồng, đến ngày 12/11/2022 chị T1 đã trả hết tiền gốc vay và 450.000 đồng tiền lãi (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 360.000 đồng).
Như vậy tổng số số tiền lãi chị T1 đã trả cho 08 khoản vay là 7.560.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20% là 6.048.000 đồng ).
6. Tháng 4/2023, H cho anh Nguyễn Văn Q vay 20.000.000 đồng với lãi suất 3.300 đồng/01 triệu/01 ngày, mỗi tháng anh Q phải trả 2.000.000 đồng lãi. Khi cho vay, H cắt 2.000.000 đồng tiền lãi tháng đầu (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 1.600.000 đồng), chỉ chuyển cho anh Q 18.000.000 đồng. Đến ngày 26/6/2023, anh Q đã 20.000.000 đồng tiền gốc đã vay, số tiền lãi còn lại thì H không yêu cầu anh Q phải trả.
7. Tháng 6/2020, H cho anh Nguyễn Văn Đ vay 50.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, mỗi tháng anh Đ phải trả 4.500.000 đồng tiền lãi, anh Đ viết giấy vay nợ đối với khoản vay. Tính đến tháng 11/2020, anh Đ phải trả 22.500.000 đồng tiền lãi của 5 tháng, nhưng mới trả 10.000.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 8.000.000 đồng) và còn nợ 12.500.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 10.000.000 đồng).
Do anh Đ chưa trả được tiền lãi và tiền gốc nên từ tháng 11/2022, H đã chuyển khoản vay 50.000.000 đồng của anh Đ sang cho Nguyễn Kiều H3 (sinh năm 1977, trú tại thôn L, xã H, thị xã Đ - là em trai H) để tiếp tục thu tiền lãi của khoản vay này. Đến tháng 12/2022, anh Đ đã trả cho H3 tiền lãi 01 (một) tháng là 3.000.000 đồng (tương đương 73%/năm). Đến tháng 01/2023, H tiếp tục chuyển khoản vay của anh Đ cho anh Nguyễn Thành L là em trai H để tiếp tục thu tiền lãi. Ngày 15/02/2023, anh Đ đã chuyển khoản trả anh L tổng tiền lãi của 02 tháng (tháng 01 và tháng 02/2023) là 5.000.000 đồng (tương đương 60,8 %/năm). Đến nay, anh Đ chưa trả tiền gốc vay cho H.
Do đòi nhiều lần nhưng anh Ngô Văn D chưa trả được tiền gốc và lãi theo đúng thỏa thuận, nên khoảng tháng 4/2023 H gặp và nhờ Nguyễn Thành L đòi giúp, L đã trực tiếp gặp và yêu cầu anh D trả tiền cho H, anh D hứa hẹn nhưng sau đó không trả; sau đó H nhắn tin cho anh D chốt số tiền anh D còn nợ tính đến ngày 30/7/2023 là 861.710.000 đồng và chửi bới, yêu cầu anh D trả nợ.
Từ ngày 17/7/2023 đến ngày 23/8/2023, H chụp và gửi hình ảnh giấy ghi số tiền H cho anh D vay có chữ ký của anh D và nội dung Hà chốt nợ cũng như tin nhắn giữa H và anh D cho anh L để nhờ L đòi hộ, sau đó L gửi hình ảnh trên cho Đoàn Duy T3 (sinh năm 1983, trú tại tổ A, khu B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh - là em họ của L và H) để nhờ T3 đòi nợ giúp H. Các ngày 28 và 29/8/2023, T3 cùng một số người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến nhà anh D để yêu cầu trả nợ cho H, do anh D không có ở nhà nên T3 và những người đi cùng đem đồ đến câu cá tại đầm và ăn uống tại sân nhà anh D để chờ anh D về, thấy vậy anh D đã tố giác sự việc với Công an thị xã Đ.
Ngày 30/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ đối với Nguyễn Thị Thu H 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus và 3.050.000 đồng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của H, thu giữ: 01 (một) “giấy biên nhận” đề ngày 26/11/2020 mang tên Lê Thị Hồng V; 01 (một) tờ “giấy nhận tiền” đề ngày 08/4/2022 mang tên Nguyễn Văn Đ; 01 (một) tờ giấy có nội dung anh Nguyễn Văn Đ vay tiền của anh Nguyễn Kiều H3; 01 (một) “giấy vay tiền” mang tên Vũ Văn T; 01 (một) “giấy khất lợ” mang tên Nguyễn Văn Đ; 06 tờ giấy có ghi chữ và 11.000.000 đồng.
Sau khi biết việc anh D tố giác hành vi của Nguyễn Thị Thu H với cơ quan điều tra, ngày 30/8/2023, Nguyễn Thành L đã đến nhà anh D chửi bới anh D.
Quá trình điều tra, các anh: Ngô Văn D, Vũ Văn T, Lê Hoàng N1, Nguyễn Văn Đ; các chị Bùi Thị H2 và Phạm Thị Hồng T1 yêu cầu Nguyễn Thị Thu H trả lại phần lãi vượt quá mức quy định của pháp luật và yêu cầu xử lý đối với Nguyễn Thị Thu H theo quy định của pháp luật; anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu H phải trả lại phần lãi vượt quá mức quy định, chỉ yêu cầu xử lý hành vi của H theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus cần chuyển Chi cục Thi hành án dân sự để quản lý, đảm bảo cho việc xét xử.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Nguyễn Thị Thu H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Hoàng N1 có lời khai: do có mối quan hệ quen biết với H nên anh đã vay H số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) với lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày. Anh đã trả cho H tiền gốc và 6.000.000đ (sáu triệu đồng) tiền lãi. Số tiền lãi đến hạn anh chưa trả cho H là 10.000.000đ (mười triệu đồng).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: do cần tiền nuôi tôm nên từ tháng 11/2020 đến tháng 06/2020, anh đã 08 lần vay tiền của Nguyễn Thị Thu H, với lãi suất thỏa thuận 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày, có viết giấy vay tiền nhưng không có tài sản thế chấp. Tổng số tiền gốc anh vay của H là 270.000.000đ (hai trăm bảy mươi triệu đồng). Do không có tiền trả cho H, nên H đã tính số tiền gốc và lãi của anh đến ngày 30/8/2023 là 878.100.000đ (tám trăm bảy mươi tám triệu một trăm nghìn đồng). Trong đó: tiền gốc là 270.000.000đ (hai trăm bảy mươi triệu đồng), tiền lãi là 608.100.000đ (sáu trăm linh tám triệu một trăm đồng). Đến thời điểm này, anh mới trả cho H được 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi. Do anh không có tiền trả H theo lịch hẹn nên H đã nhờ nhiều người đòi nợ anh, ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình anh. Vì vậy, anh đã làm đơn tố giác sự việc với Công an thị xã Đ. Anh yêu cầu bị cáo phải trả cho anh số tiền lãi vượt quá mức quy định của pháp luật và yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn T, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn Đ, chị Bùi Thị H2, chị Phạm Thị Hồng T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện việc các anh chị có vay tiền của H với lãi suất từ 3.000 đồng - 3.300 đồng/01 triệu/01 ngày. Hiện nay, anh T còn nợ H 70.000.000 đồng tiền gốc vay và 63.000.000 đồng tiền lãi; chị H2 còn nợ H 6.000.000 đồng tiền gốc vay và 1.800.000 đồng tiền lãi; chị T1 đã trả hết tiền gốc 113.000.000 đồng và 7.560.000 đồng tiền lãi cho H; anh Q đã trả cho H 20.000.000 đồng tiền gốc vay và 2.000.000 đồng tiền lãi; anh Đ còn nợ H 50.000.000 đồng tiền gốc vay và 12.500.000 đồng tiền lãi. Các anh chị yêu cầu H phải trả phần lãi vượt quá mức quy định (riêng anh Q không yêu cầu H trả phần lãi vượt quá quy định) và đề nghị xử lý hành vi của H theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại đơn xin xét xử vắng mặt với nội dung: anh là em trai bị cáo Nguyễn Thị Thu H. Số tiền 39.088.000đ (ba mươi chín triệu không trăm tám mươi tám nghìn đồng) anh nộp thay cho bị cáo tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều là tiền tự nguyện khắc phục hậu quả, do chị gái anh tác động anh nộp thay. Anh không yêu cầu H phải trả cho anh số tiền trên.
Tại Cáo trạng số: 1878/CT- VKSĐT ngày 06 - 9 - 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
a) Về trách nhiệm hình sự:
- Về hình phạt chính: áp dụng khoản 2, 3 Điều 201; khoản 2, 3 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 13-15 tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 30 tháng 8 năm 2023).
- Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 3 Điều 201; khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
b, Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự:
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền 164.372.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước (trong đó: 153.000.000 đồng là tiền gốc người vay đã trả cho bị cáo; 9.772.000 đồng là tiền lãi trong quy định, chưa vượt quá 20%/năm mà bị cáo đã thu được của người vay, 1.600.000 đồng là số tiền lãi vượt quá 20%/năm của anh Nguyễn Văn Q);
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải trả lại tổng số tiền là 37.488.000 đồng (là tiền lãi vượt quá 20%/năm) cho 06 người vay. Cụ thể như sau: anh Ngô Văn D: 5.200.000 đồng; anh Vũ Văn T: 10.080.000 đồng; anh Lê Hoàng N1: 4.800.00 đồng; chị Bùi Thị H2: 3.360.000 đồng; chị Phạm Thị Hồng T1: 6.048.000 đồng; anh Nguyễn Văn Đ: 8.000.000 đồng.
- Buộc 04 người vay nộp lại tổng số tiền 396.000.000 đồng là tiền gốc những người này chưa trả cho Nguyễn Thị Thu H để tịch thu sung ngân sách nhà nước, gồm: anh Ngô Văn D: 270.000.000 đồng; anh Vũ Văn T: 70.000.000 đồng; chị Bùi Thị H2: 6.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn Đ: 50.000.000 đồng.
- Tạm giữ số tiền 39.088.000đ (ba mươi chín triệu không trăm tám mươi tám nghìn đồng) anh Nguyễn Thành L nộp thay cho bị cáo theo biên lai số 0002697 ngày 20/9/2024 tại Chi cục thi hành án thị xã Đ để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus vỏ màu hồng.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 14.050.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Lưu kèm hồ sơ vụ án các giấy tờ liên quan đến hành vi phạm tội, thu giữ tại nhà Nguyễn Thị Thu H và 03 đĩa DVD (trong đó: 01 đĩa DVD liên quan công tác giám định; 02 đĩa DVD ghi âm lời khai bị cáo).
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: từ tháng 11/2020 đến tháng 4/2023, tại thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi cho 07 người vay tổng số 549.000.000 đồng với mức lãi suất từ 109,5%/năm đến 182,5%/năm, nhằm thu lợi bất chính (tiền lãi vượt quá 20%/năm) số tiền 595.328.000 đồng (năm trăm chín mươi năm triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng). Trong đó số tiền thu lợi bất chính đã thu được là 39.088.000 đồng; số tiền thu lợi bất chính chưa thu được là 556.240.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính; ảnh hưởng đến các giao dịch dân sự, đẩy gia đình người vay tiền vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong dư luận. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, bất chấp đạo lý để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: ngày 22/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Đông Triều xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 24/12/2016, đã chấp hành xong Bản án; tiền án: ngày 06/5/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 30/8/2005 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thi hành xong phần hình phạt bổ sung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: tại bản án năm 1999, bị cáo chưa thi hành hình phạt bổ sung; trong vụ án này đối với 02 (hai) khoản vay của anh Vũ Văn T và anh Ngô Văn D, số tiền bị cáo hướng tới để thu lợi bất chính trong mỗi khoản vay là hơn 30.000.000 đồng, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” và “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g và h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình nộp lại tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức thức phạt tiền là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[6] Về biện pháp tư pháp:
- Về số tiền gốc bị cáo đã sử dụng để cho vay và số tiền gốc người vay còn nợ đều là phương tiện phạm tội; số tiền lãi (chưa đến 20%/năm) mặc dù không tính để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng là thu lợi từ việc phạm tội, số tiền lãi trên 20% của anh Q không yêu cầu bị cáo phải trả lại, cần truy thu để sung ngân sách Nhà nước. Cụ thể là:
- - Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền 164.372.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước (trong đó: 153.000.000 đồng là tiền gốc người vay đã trả cho bị cáo; 9.772.000 đồng là tiền lãi trong quy định, chưa vượt quá 20%/năm mà bị cáo đã thu được của người vay và 1.600.000 đồng là số tiền lãi vượt quá 20%/năm của anh Nguyễn Văn Q); buộc 05 người vay nộp lại tổng số tiền 396.000.000 đồng là tiền gốc những người này chưa trả cho H để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Về số tiền 39.088.000 đồng, lãi suất vượt quá 20%/năm là tiền thu lợi bất chính của người vay, cần buộc bị cáo phải trả cho những người vay.
- - Đối với số tiền 39.088.000đ (ba mươi chín triệu không trăm tám mươi tám nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính anh Nguyễn Thành L nộp thay cho bị cáo theo biên lai số 0002697 ngày 20/9/2024 tại Chi cục thi hành án thị xã Đông Triều cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu hồng của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Số tiền 14.050.000đ (mười bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo trong quá trình bắt giữ, khám xét, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
- Lưu kèm hồ sơ vụ án các giấy tờ liên quan đến hành vi phạm tội, thu giữ tại nhà Nguyễn Thị Thu H và 03 đĩa DVD (trong đó: 01 đĩa DVD liên quan công tác giám định; 02 đĩa DVD ghi âm lời khai bị cáo).
[8] Về các vấn đề khác: theo lời khai của Nguyễn Thị Thu H, ngoài việc cho anh Đ vay tiền như đã nêu trên, từ thời điểm tháng 11/2020 đến ngày 08/4/2022, H còn cho anh Đ vay 150.000.000 đồng nhưng không tính lãi. Quá trình điều tra chưa làm rõ được việc cho vay có vi phạm pháp luật hình sự hay không nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Trong vụ án này, Nguyễn Thành L và Nguyễn Kiều H3 có hành vi giúp sức cho H thu lãi của anh Nguyễn Văn Đ từ tháng 12/2022 đến tháng tháng 02/2023. Tuy nhiên mức lãi suất dưới 100% nên Công an thị xã Đ đã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân thị xã Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Hành vi của Nguyễn Thành L gọi điện thúc giục anh Ngô Văn D trả tiền; Đoàn Duy T3 cùng một số người khác đến nhà tìm anh D vào ngày 28/8/2023 và ngày 29/8/2023 để yêu cầu anh D trả tiền cho H nhưng L và T3 không biết cụ thể số tiền gốc, lãi và không nêu rõ số tiền anh D phải trả cho H nên chưa đủ cơ sở để xác định L và T3 đồng phạm với H về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; quá trình gọi điện và đến nhà anh D đòi nợ, T3 và những người đi cùng không có lời nói, hành động đe doạ đối với những người trong gia đình anh D nên hành vi không cấu thành tội phạm.
Trong vụ án này, ngoài việc vay lãi của Nguyễn Thị Thu H, anh Ngô Văn D còn khai đã vay của Nguyễn Thị D1 (sinh năm 1964, trú tại thôn L, xã H, thị xã Đ) số tiền 70.000.000₫ từ tháng 7/2020 đến tháng 9/2020 với lãi suất 3000đ/1triệu/ngày. Quá trình điều tra D1 vắng mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với hành vi chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm anh Ngô Văn D vào ngày 30/8/2023 của Nguyễn Thành L; Đoàn Duy T3 có hành vi nhắn tin, chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm anh Ngô Văn D vào ngày 23/8/2023. Cơ quan cảnh sát điều tra C1 đã chuyển hồ sơ cho Công an thị xã Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người đàn ông cùng T3 đến nhà anh D vào ngày 28 và ngày 29/8/2023. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ: khoản 2, 3 Điều 201; khoản 3 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 30 tháng 8 năm 2023).
Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.
2. Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự:
Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền 164.372.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước (trong đó: 153.000.000 đồng là tiền gốc người vay đã trả cho bị cáo; 9.772.000 đồng là tiền lãi trong quy định, chưa vượt quá 20%/năm mà bị cáo đã thu được của người vay, 1.600.000 đồng là số tiền lãi vượt quá 20%/năm của anh Nguyễn Văn Q);
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải trả lại tổng số tiền là 37.488.000 đồng (là tiền lãi vượt quá 20%/năm) cho 06 người vay. Cụ thể như sau: anh Ngô Văn D: 5.200.000 đồng; anh Vũ Văn T: 10.080.000 đồng; anh Lê Hoàng N1: 4.800.000 đồng; chị Bùi Thị H2: 3.360.000 đồng; chị Phạm Thị Hồng T1: 6.048.000 đồng; anh Nguyễn Văn Đ: 8.000.000 đồng.
- Buộc 04 người vay nộp lại tổng số tiền 396.000.000 đồng là tiền gốc những người này chưa trả cho Nguyễn Thị Thu H để tịch thu sung ngân sách nhà nước, gồm: anh Ngô Văn D: 270.000.000 đồng; anh Vũ Văn T: 70.000.000 đồng; chị Bùi Thị H2: 6.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn Đ: 50.000.000 đồng.
* Tạm giữ số tiền 39.088.000đ (ba mươi chín triệu không trăm tám mươi tám nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus vỏ màu hồng.
(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 111 ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H số tiền 14.050.000đ (mười bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng)
(Số tiền trên được đựng trong các gói niêm phong số 334, 335 theo biên bản giao nhận tài sản số 152 ngày 05/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Kho bạc Nhà nước thị xã Đ).
4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Như Quỳnh |
Bản án số 86/2024/HS - ST ngày 29/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 86/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H
