|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2024/HS-PT Ngày: 22-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông.
Ông Phạm Minh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 46/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2023/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn T, sinh ngày 20/9/1996, tại Sóc Trăng; Nơi thường trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện nay: Số E, Đường T, ấp T, xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề ngiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hữu C, sinh năm 1970 và bà Võ Thị N, sinh năm 1971; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 03/3/2023, Trần Văn T điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-058.57 giao hàng cho Công ty cổ phần T4 tại xã A, huyện T, cùng đi trên xe có ông Đặng Công H là lơ xe. Trên đường về, xe lưu thông trên đường Quốc lộ 30 từ hướng thành phố H về thành phố C. Xe di chuyển đến đoạn đường L, khóm T, thị trấn T, huyện T thì lấn qua phần đường bên trái hướng đi nên va chạm với xe mô tô biển số 66B1-360.69 do ông Nguyễn Ngọc Giúp T1 điều khiển ngược chiều phía trước, chở con ruột ngồi phía trước là Nguyễn Minh K, sinh năm 2017. Cháu Nguyễn Minh K và ông Nguyễn Ngọc Giúp T1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ đến 09 giờ 30 phút ngày 04/3/2023 thì K tử vong, ông Giúp T1 bị thương nhẹ.
Căn cứ bản Kết luận giám định tử thi số 271/KLGĐTT-KTHS ngày 09/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ: Nguyễn Minh K bị đa chấn thương nhiều vùng trên cơ thể, bầm tụ máu dưới da cơ vùng trán-đỉnh-chẩm, nứt, vỡ xương sọ phức tạp vùng trán trái, dập, xuất huyết não. Kết luận nguyên nhân tử vong do bị chấn thương nặng vùng đầu làm nứt vỡ xương sọ phức tạp gây dập và xuất huyết não.
Căn cứ bản Kết luận giám định số 309/KL-KTHS ngày 16/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu máu thu của Trần Văn T tại thời điểm giám định ngày 09/3/2023 không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).
Cơ quan Cảnh sát giao thông Công an huyện T sử dụng máy đo nồng độ cồn qua khí thở đối với Nguyễn Ngọc Giúp T1 tại Bệnh viện Đ ngày 03/3/2023, có kết quả là 0,463 miligam/1 lít khí thở.
Căn cứ bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 277/KLTCCT-TTPYĐT ngày 20/7/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc Giúp T1 tại thời điểm giám định là 10%.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 03/3/2023, xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là trên đường Q, đường L tại km 59+300, thuộc khóm T, thị trấn T, huyện T, đường thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, đường hai chiều, có vạch kẻ tim đường đứt nét, chiều rộng mặt đường 7m20, có cọc tiêu ở mép đường bên trái theo hướng thành phố H đi thành phố C, có biển R.420 “Bắt đầu khu vực đông dân cư”, biển W.207b “Giao nhau với đường không ưu tiên” (đường nhánh) và biển W.212 “Cầu hẹp”. Mép đường làm chuẩn nơi xảy ra tai nạn là mép đường bên phải theo hướng thành phố H đi thành phố C. Vùng va chạm nằm ở phần đường bên trái theo hướng thành phố H đi thành phố C, từ tâm vùng va chạm đo vào mép chuẩn là 4m90 (lấn sang trái 1m30).
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô tải biển số 51D-058.57 ngày 03/3/2023 ghi nhận dấu vết chính sau: Cạnh phải thùng xe có vết thụng móp mất bụi theo chiều hướng từ trước về sau, bên phải thùng xe có 03 vết trầy xướt, thanh kim loại chắn gầm xe bên phải có vết xướt trượt mất bụi, chốt cố định cánh cửa thùng xe bên phải (cửa sau) tại vị trí thùng xe bên phải bị bể, cung trước và cung sau chắn bùn bánh xe sau bên phải bị bể và mất bụi, mép ngoài và lốp ngoài bánh xe sau bên phải có vết xước trượt mất bụi, mép ngoài mâm xe bánh xe ngoài bên phải bị trầy xước kim loại.
2
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số 66B1-360.69 ngày 03/3/2023 ghi nhận dấu vết chính sau: Gương chiếu hậu bên trái bị sứt rời khỏi xe, ốp nhựa trên, giữa đầu xe bị sứt rời khỏi xe, đầu kim loại tay nắm bên trái bị mài mòn, đầu kim loại tay nắm bên phải bị trầy xướt, cần hãm phanh sau bị cong từ trước về sau, gác chân trước bên phải và bên trái bị cong từ trước về sau, mặt trước cần khởi động máy có vết xước trược, cung trước chắn bùn bánh xe trước bị trầy xước, đèn xin nhan bên trái bị bể, cánh yếm bên trái bị trầy xước, đuôi khung nâng xe bị cong từ trên xuống dưới, bên phải khung nâng xe bị mài mòn.
Từ kết quả điều tra xác định nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông do Trần Văn T điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-058.57, đi cùng xe là Đặng Công H lưu thông trên Quốc lộ C hướng thành phố H đi thành phố C do đi không đúng phần đường quy định vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 nên đã va chạm với xe mô tô biển số 66B1-360.69 do Nguyễn Ngọc G Tư điều khiển ngược chiều phía trước chạy đến, chở con ruột ngồi phía trước là Nguyễn Minh K, hậu quả ông Giúp T1 bị tổn thương cơ thể là 10%, cháu K tử vong. Trong vụ tai nạn giao thông này, bị cáo T điều khiển xe ô tô tải gây tai nạn làm chết người nên phạm tội thuộc tình tiết quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Đối với Nguyễn Ngọc Giúp T1 điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi có sử dụng nồng độ cồn là 0,463mg/lít khí thở đã vi phạm quy định tại điểm e khoản 8 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực gia thông đường bộ và đường sắt; ngày 25/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển hồ sơ đến Đội Cảnh sát giao thông và trật tự Công an huyện T để xử lý theo quy định pháp luật. Các bên liên quan đã nhận lại phương tiện tham gia giao thông nêu trên, tự sửa chữa phương tiện hư hỏng, không yêu cầu gì.
Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay, ông Giúp T1 và bà T2 là người đại diện hợp pháp của người bị hại thống nhất nhận số tiền bồi thường chi phí mai táng và tổn thất tinh thần là 160.000.000 đồng do bị cáo T khắc phục, không yêu cầu bồi thường gì thêm, đã nhận lại xe mô tô biển số 66B1-360.69 xong và có đơn yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2023/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 5 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Trần Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo có cung cấp các tình tiết mới như bị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi cha mẹ bị bệnh; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông ngoại của bị cáo là cựu chiến binh; đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt chính mà án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết mà bị cáo mới cung cấp cũng không phải là điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 03/3/2023, Trần Văn T điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-058.57 lưu thông trên đường Quốc lộ 30 từ hướng thành phố H về thành phố C do không đi đúng phần đường nên va chạm xe vào xe mô tô biển số 66B1-360.69 do Nguyễn Văn Giúp T3 điều khiển chở con ruột ngồi phía trước là Nguyễn Minh K. Hậu quả làm cháu Nguyễn Minh K tử vong do chấn thương sọ não nặng, ông Giúp T3 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 10%.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo điều khiển xe ô tô tải đi không đúng phần đường nên đã va chạm vào xe mô tô điều khiển ngược chiều phía trước chạy đến, làm chết một người, bị thương một người. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
4
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo có cung cấp các tình tiết mới như bị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi cha mẹ bị bệnh; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông ngoại của bị cáo là cựu chiến binh; đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt 01 năm tù mà án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cấp sơ thẩm đã có xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và các tình tiết mà bị cáo mới cung cấp cũng không phải là điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[4] Xét lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Trần Văn T là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Trần Văn T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt chính đối với bị cáo Trần Văn T.
2. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
6
Bản án số 86/2024/HS-PT ngày 22/04/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 86/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông thông đường bộ khoản 1, 5 Điều 260
