Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/DS-ST

Ngày: 21-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thanh
  2. Bà Phạm Thị Kim Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng N (A);
  • Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền: bà Đỗ Thị Thanh T – Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện C, tỉnh An Giang (Theo quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022).
  • Bà Đỗ Thị Thanh T ủy quyền lại cho bà Nguyễn Võ Thanh T1, sinh năm 1983 (Theo văn bản ủy quyền số 81/UQ-NHNo.CT ngày 21/3/2024; bà T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
  • Địa chỉ nơi làm việc: số C Quốc lộ I, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
  • - Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1963
  • Địa chỉ: Tổ A, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 20/3/2024, quá trình tố tụng, đại diện nguyên đơn bà Đỗ Thị Thanh T trình bày: Ngày 20/01/2022 bà Phạm Thị H có ký kết hợp đồng tín dụng số 6709LAV2022000165 để vay của A chi nhánh C số tiền 2.500.000.000 đồng, mục đích vay chăn nuôi cá, giải ngân ngày 21/10/2022, lãi suất thỏa thuận 9,2%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng bà H nộp lãi từ ngày 21/10/2022 đến ngày 20/4/2023 với số tiền 110.863.014 đồng, từ ngày 21/4/2023 bà H không trả vốn gốc và lãi cho phía ngân hàng.

Để đảm bảo cho khoản vay bà Phạm Thị H có ký một hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 06/HĐTC ngày 20/01/2022 để thế chấp một quyền sử dụng đất diện tích 57,2m² tọa lạc tại khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH00568 ngày 03/8/2015 đứng tên Phạm Thị H, trên đất có một căn nhà cấp IIIa, diện tích xây dựng 57,2m², diện tích sàn 159,3m².

Tính đến ngày 20/3/2024 tổng dư nợ của bà Phạm Thị H là 2.719.917.808 đồng gồm tiền gốc 2.500.000.000 đồng, lãi trong hạn 211.095.890 đồng, lãi quá hạn 8.821.918 đồng. Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị H trả toàn bộ số nợ trên, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong số nợ. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp 06/HĐTC ngày 20/01/2022 để đảm bảo thi hành án.

* Tòa án đã triệu tập bị đơn bà Phạm Thị H nhưng bà Phạm Thị H vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa,

- Đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Võ Thanh T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Phạm Thị H trả cho Ngân hàng N số tiền vốn gốc là 2.500.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 21/8/2024 là 365.479.452 đồng, bao gồm lãi trong hạn là 308.136.986 đồng và lãi quá hạn là 57.342.466 đồng, tiếp tục tính lãi theo hợp đồng số 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022 đối với nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp bà Phạm Thị H không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng vay tài sản số 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 57,2m² tọa lạc tại khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH00568 ngày 03/8/2015 đứng tên Phạm Thị H, trên đất có một căn nhà cấp IIIa, diện tích xây dựng 57,2m², diện tích sàn 159,3m² theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 06/HĐTC ngày 20/01/2022 để thu hồi nợ.

- Bị đơn bà Phạm Thị H vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền vốn gốc là 2.500.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 21/8/2024 là 365.479.452 đồng, tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng số 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022 đối với nợ gốc. Trường hợp bà Phạm Thị H không trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản bảo đảm để thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng N và bà Phạm Thị H xác lập quan hệ vay vốn thông qua hợp đồng tín dụng hạn mức, tuy nhiên bà Phạm Thị H không có đăng ký kinh doanh nên tranh chấp giữa Ngân hàng N và bà Phạm Thị H được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2 Về thẩm quyền giải quyết: bà Phạm Thị H thường trú tại khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của đương sự: đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Võ Thanh T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bà Phạm Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1 Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ là: bản sao hợp đồng cho vay số 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022 có chữ ký của bà Phạm Thị H và đại diện Ngân hàng N đã xác định bà Phạm Thị H có vay của Ngân hàng N số tiền 2.500.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm, mục đích vay: chăn nuôi cá, lãi suất điều chỉnh theo từng giấy nhận nợ, định kỳ điều chỉnh 06 tháng một lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Sự thỏa thuận giữa Ngân hàng N và bà Phạm Thị H là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung thỏa thuận không trái đạo đức, pháp luật nên được xem là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Phạm Thị H vi phạm nghĩa vụ không trả vốn theo thỏa thuận. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà Phạm Thị H còn nợ Ngân hàng N số tiền vốn gốc theo hợp đồng 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022 là 2.500.000.000 đồng, việc vi phạm thỏa thuận này đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn yêu cầu bà Phạm Thị H thanh toán toàn bộ vốn gốc còn nợ là phù hợp nên được hội đồng xét xử chấp nhận.

Do đó, căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, buộc bà Phạm Thị H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền vốn gốc còn nợ là 2.500.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm triệu đồng).

2.2 Về lãi suất:

Căn cứ hợp đồng cho vay số 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022 giữa Ngân hàng N và bà Phạm Thị H xác định lãi suất thỏa thuận là lãi suất điều chỉnh theo từng giấy nhận nợ, định kỳ điều chỉnh 06 tháng một lần, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,2%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Phạm Thị H vi phạm hợp đồng, nay Ngân hàng N yêu cầu tính lãi theo thỏa thuận đến ngày xét xử sơ thẩm 21/8/2024 là 365.479.452 đồng, bao gồm lãi trong hạn là 308.136.986 đồng và lãi quá hạn là 57.342.466 đồng, đồng thời tiếp tục tính lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi thỏa thuận từ ngày xét xử đến khi bà Phạm Thị H thanh toán xong toàn bộ số nợ là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.3 Về biện pháp bảo đảm:

Ngày 20/01/2022 Ngân hàng N và bà Phạm Thị H ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 06/HĐTC với nội dung thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 57,2m² tọa lạc tại khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH00568 ngày 03/8/2015 đứng tên Phạm Thị H, trên đất có một căn nhà cấp IIIa, diện tích xây dựng 57,2m², diện tích sàn 159,3m² để đảm bảo cho hợp đồng cho vay số 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022 và tất cả các hợp đồng cho vay ký giữa Ngân hàng N và bà Phạm Thị H phát sinh trong tương lai.

Xét thấy thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 06/HĐTC ngày 20/01/2022 là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, tài sản bảo đảm được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ – chi nhánh C, tỉnh An Giang ngày 21/01/2022 nên phát sinh hiệu lực đối với các bên liên quan.

Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 11/7/2024 trên diện tích bà Phạm Thị H thế chấp cho Ngân hàng N có tài sản một căn nhà gạch có diện tích xây dựng 57,2m², diện tích sàn 159,3m² kết cấu nhà cấp IIIa, 03 tầng, móng BTC.T, nền lót gạch ceramic, tường cột BTC.T, vách xây gạch, mái tole thuộc quyền sở hữu của bà Phạm Thị H. Hợp đồng thế chấp 06/HĐTC ngày 20/01/2022 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực pháp luật, do đó Ngân hàng N yêu cầu trong trường hợp bà Phạm Thị H không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng vay tài sản số 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 06/HĐTC ngày 20/01/2022 để thu hồi nợ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N được chấp nhận nên bị đơn bà Phạm Thị H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, số tiền là 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên cần buộc bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 18, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  • - Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  • - Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 327, Điều 357, Điều 463, khoản 1 và khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8a, Điều 12 nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/6/2006 được sửa đổi, bổ sung bởi nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 và nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Buộc bà Phạm Thị H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền vốn gốc là 2.500.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm triệu đồng) và tiền lãi là 365.479.452 đồng (ba trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi chín ngàn bốn trăm năm mươi hai đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền vốn gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022 giữa Ngân hàng N và bà Phạm Thị H.

  1. Trường hợp bà Phạm Thị H không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng vay tài sản số 6709LAV2022000165 ngày 20/01/2022, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 57,2m² tọa lạc tại khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH00568 ngày 03/8/2015 đứng tên Phạm Thị H, trên đất có một căn nhà cấp IIIa, diện tích xây dựng 57,2m², diện tích sàn 159,3m² theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 06/HĐTC được lập ngày 20/01/2022 và được công chứng ngày 21/01/2022 tại văn phòng C để thu hồi nợ.
  1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bà Phạm Thị H hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
  1. Về án phí sơ thẩm:
    • - Ngân hàng N được nhận lại số tiền 43.199.000 đồng (bốn mươi ba triệu một trăm chín mươi chín ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004630 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
    • - Bà Phạm Thị H phải chịu 89.309.500 đồng (tám mươi chín triệu ba trăm lẻ chín ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  1. Quyền kháng cáo: Ngân hàng N, bà Nguyễn Võ Thanh T1 và bà Phạm Thị H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang;
  • - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 86/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger