Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HNGĐ-ST

Ngày 21 tháng 5 năm 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Vân - Bà Trần Thanh Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 246/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thu V, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Tổ A, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Số A khóm B, phường B, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị Thu V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn L tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 1985, đăng ký kết hôn vào ngày 03/8/1996 tại Ủy ban nhân dân thị trấn An Châu, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn ông bà sống cùng gia đình chồng sau đó về gia đình cha mẹ bà sinh sống, đến năm 1993 bà và ông L làm công nhân và sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 1999 thì phát sinh mâu thuẫn do ông L không còn chí thú làm ăn, bỏ bê gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, không tin tưởng, tôn trọng nhau. Gia đình không còn êm ấm nên ông bà sống ly thân từ năm 1999 đến nay. Do mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn ông L.

Về con chung: Bà và ông L có 03 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1986; Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Thủy T2, sinh năm 1993. Các con chung đã thành niên và có khả năng lao động.

Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết ông Nguyễn Văn L được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà V. Phiên tòa được mở lần thứ hai, ông L vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 173, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thu V được ly hôn ông Nguyễn Văn L.
  • - Về con chung: Ông bà có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1986; Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Thủy T2, sinh năm 1993. Các con chung đã thành niên và có khả năng lao động.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không đề xuất giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông L. Ông L cư ngụ tại phường B, thành phố Long Xuyên nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Phiên tòa hôm nay được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng ông L vắng mặt không có lý do, bà V không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Ông L và bà V tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn An Châu, huyện Châu Thành nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo bà V trình bày vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 1999 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, trong gia đình thiếu sự quan tâm, tin tưởng và tôn trọng nhau. Thời gian sống ly thân từ năm 1999 đến nay cả hai không có giải pháp khắc phục bất hòa. Do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên bà V yêu cầu ly hôn ông L.

Quá trình giải quyết vụ án ông L vắng mặt. Theo Phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án tại Công an phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên ngày 05/3/2024 thể hiện: Đương sự Nguyễn Văn L, sinh năm 1965 có đăng ký thường trú tại số A khóm B, phường B, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông L vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông L biết nhưng ông L vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do bà V cung cấp, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của bà V là ông L từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ vui buồn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Nhưng bà V thừa nhận gia đình không có sự quan tâm nhau, tin tưởng và tôn trọng nhau, ông L cũng không có nguyện vọng hòa giải níu kéo, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Phiên tòa được mở lần thứ hai ông L tiếp tục vắng mặt là không có thiện chí đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V được ly hôn ông L.

[2.2]. Về con chung: Ông bà có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1986; Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Thủy T2, sinh năm 1993. Các con chung đã thành niên và có khả năng lao động.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà V không yêu cầu giải quyết. Ông L không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.

[3]. Về án phí: Bà V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Thu V được ly hôn ông Nguyễn Văn L.
  2. Về con chung: Ông bà có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1986; Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Thủy T2, sinh năm 1993. Các con chung đã thành niên và có khả năng lao động.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Phan Thị Thu V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001651, ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà V đã nộp đủ tiền án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Bà V có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Ông L không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi gởi:

  • - Tòa án ND tỉnh An Giang;
  • - VKS ND TPLX;
  • - Thi hành án DS TPLX;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 86/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Thu V được ly hôn ông Nguyễn Văn L.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger