Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HSST

Ngày 22-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Phúc
  2. Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; sinh ngày 07 tháng 02 năm 1999, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Trương Thị Ngọc H1; chưa có vợ; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03-8-2024; có mặt.

Bị hại: ông Tô Văn L, sinh năm 1964; nơi cư trú: ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lê Văn T, sinh năm 1974; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 06 giờ 30 phút ngày 02/8/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe môtô loại Wave, biển số 70C1- 223.32 đi đến khu vực thị trấn B, huyện B. Lúc này, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người dân để sơ hở đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, H đi đến bãi đất trống thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì nhìn thấy khoảng 03, 04 con bò không người trông coi nên H đi đến dẫn 01 con bò cái lông màu vàng - đỏ (cao 1,38 mét, dài 1,8 mét, bề hoành 02 mét, khoảng 02 năm tuổi, đang mang thai tháng thứ sáu, trọng lượng khoảng 350 kg) đi đến cột gần khu vực chốt C. H điện thoại cho ông Lê Văn D tìm người bán bò. Sau đó, ông D cùng ông T đến gặp H; H bán bò cho ông T với giá 12.000.000 đồng, ông T dẫn bò về nhà. Ông L tìm kiếm đến khoảng 17 giờ cùng ngày phát hiện con bò của mình bị mất đang ở nhà của ông T nên trình báo Công an. Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 17 ngày 05/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Tây Ninh, kết luận: 01 con bò cái lông màu vàng đỏ; cao 1,38 mét, dài 1,8 mét, bề hoành 02 mét; trọng lượng khoảng 350 kg; khoảng 02 năm tuổi, đang mang thai lần đầu đến tháng thứ sáu (hiện con bò còn sống khỏe mạnh) tại thời điểm ngày 02/8/2024 có giá trị là 24.500.000 đồng. Ông Tô Văn L đã nhận lại bò. Ông Nguyễn Văn N (cha của H) đã trả cho ông Lê Văn T số tiền 12.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 81/CT-VKS-BC ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 đến 12 tháng tù.

Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ Luật tống tụng hình sự: xử lý vật chứng 01 điện thoại di động hiệu ViVo Y16 màu đen, theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 02/8/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe môtô loại Wave, biển số 70C1- 223.32 đi đến khu vực thị trấn B, huyện B ăn sáng, trên đường đi thấy bò cột cặp đường nên nẩy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 09 giờ cùng ngày, H đến bãi đất trống thuộc ấp T, xã L, huyện B nhìn thấy khoảng 03 đến 04 con bò không người trông coi nên H đến dẫn 01 con bò cái lông màu vàng - đỏ đến cột gần khu vực chốt Cầu Trắng; sau đó kêu ông T đến bán với giá 12.000.000 đồng dùng đánh bạc. Ông L tìm kiếm phát hiện con bò đang ở nhà của ông T nên trình báo Công an. Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 17 ngày 05/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Tây Ninh, kết luận: 01 con bò cái lông màu vàng đỏ; cao 1,38 mét, dài 1,8 mét, bề hoành 02 mét; trọng lượng khoảng 350 kg; khoảng 02 năm tuổi, đang mang thai lần đầu đến tháng thứ sáu (hiện con bò còn sống khỏe mạnh) tại thời điểm ngày 02/8/2024 có giá trị là 24.500.000 đồng.

Như vậy, có căn cứ xác định bị cáo là người lén lút trộm bò của ông L; hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương; cần xử lý theo pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội mang tính nhất thời; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn; đã được thu hồi trả lại cho bị hại xong; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho ông T; bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Vật chứng: một điện thoại di động hiệu Vivo Y16, màu đen, số IMEI 869539065650662. Số IMEI 869539065650670 đã qua sử dụng; đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 73; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03-8-2024.
  4. Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Ghi nhận ông Tô Văn L đã nhận lại tài sản; ông Lê Văn T đã nhận lại số tiền 12.000.000 đồng.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: một điện thoại di động hiệu Vivo Y16, màu đen, số IMEI 869539065650662. Số IMEI 869539065650670 đã qua sử dụng.

  1. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - CQĐT Công an huyện Bến Cầu;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an cấp xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HSST ngày 22/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 86/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NG VAN HAI - TROM TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger