Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án: 86/2025/HSST

Ngày: 25/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thẩm
  • Bà Phan Kim Hoa
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Đào- Kiểm sát viên .

Ngày 25/03/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân thành phố Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2025/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Hoàng B, sinh ngày 19/10/1995. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: Khối 11, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Đoàn thể: Không

Con ông: Trần Minh H1 (Đã chết) và bà Hứa Thị Diệp A, sinh năm 1976

Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai.

Vợ: Nguyễn Thị Thủy Ngân, sinh năm 1993

Con: Có 03 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2022;

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • Năm 2013 bị Công an thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”
  • Năm 2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 30 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ kể từ ngày 07/01/2025 đến ngày 13/01/2025 được tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt

*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh: Đặng Danh H, sinh năm 1988. Vắng mặt. Trú tại: Khối 11, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
  • Anh: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1995. Vắng mặt. Trú tại: Khối 11, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ ngày 06/6/2024 đến ngày 27/11/2024, Trần Hoàng B dùng số tiền 130.000.000 đồng để cho anh Đặng Danh H, anh Nguyễn Ngọc T vay nhiều lần, thu lợi bất chính số tiền 36.972.603 đồng. Cụ thể như sau:

  • Cho anh Đặng Danh H vay 05 lần, mỗi lần 60.000.000 đồng trong thời hạn 30 ngày, với lãi suất là 146%/1 năm, thu lợi bất chính số tiền là 31.068.493đồng.
  • Cho anh Nguyễn Ngọc T vay tiền 01 lần 10.000.000 đồng, trông Thời hạn 100 ngày, lãi suất vay 109,5%/ 01 năm đến 146%/01 năm, thu lợi bất chính số tiền là 5.904.110 đồng.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận như sau: Vào khoảng giữa năm 2024, Trần Hoàng B được gia đình cho 130.000.000 đồng để làm vốn kinh doanh nhưng B lại dùng để thực hiện hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Khi có người vay đặt vấn đề vay tiền thì B không yêu cầu người vay pH cầm cố thế chấp tài sản mà sẽ đưa ra mức lãi suất của khoản vay pH đóng từ 3000 đồng đến 4000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương lãi suất từ 109,5%/năm đến 146%/năm (Cao gấp từ 5,475 lần đến 7,3 lần lãi suất cao nhất được hưởng do Bộ luật dân sự quy định). Để thực hiện hành vi phạm tội, Trần Hoàng B sử dụng ứng dụng Facebook được cài đặt trên 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, bên trong lắp sim số 0973799999, đã qua sử dụng để liên hệ trao đổi với người vay tiền, thống nhất các nội dung của khoản vay như số tiền vay, lãi suất vay, tiền lãi,... Sau khi thống nhất các nội dung của khoản vay với người vay, Trần Hoàng B sẽ cắt trước lãi suất của khoản vay rồi đưa tiền gốc cho họ, B yêu cầu người vay pH trả tiền gốc trong một thời gian nhất định (thường là 30 ngày, tức là cho vay theo kiểu bốc bát họ). Khi người vay đồng ý thì B sẽ sử dụng tải khoản ngân hàng Vietcombank số 0007737999999 mang tên Trần Hoàng B để chuyển tiền gốc cho người vay và đồng thời nhận tiền gốc hàng ngày bằng hình thức nhận tiền mặt hoặc tiền chuyển khoản. Từ tháng 6/2024 đến tháng 11/2024, Trần Hoàng B đã thực hiện hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" đối với 02 người, cụ thể như sau:

+. Đối với anh Đặng Danh H: Trần Hoàng B sử dụng số tiền gốc 120.000.000 đồng để cho vay 05 lần, cụ thể:

  • Lần vay thứ 1: Ngày 15/7/2024, anh H vay B số tiền 60.000.000đồng với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương mức lãi suất 146%/năm (Cao gấp 7,3 lần lãi suất cao nhất được hưởng do Bộ luật dân sự quy định) trong kỳ hạn 30 ngày. Mỗi ngày anh H pH trả số tiền 2.000.000 đồng tiền gốc. Sau khi thống nhất khoản vay, B cắt 7.200.000đồng tiền lãi của 30 ngày và 2.000.000 đồng tiền gốc của ngày đầu tiên. Ngày 15/7/2024, B sử dụng tài khoản 0007737999999 ngân hàng Vietcombank chuyển cho anh H số tiền 50.800.000 đồng. Đối với khoản vay này, anh Đặng Danh H đã trả cho Trần Hoàng B 50.000.000 đồng tiền gốc và còn nợ tiền gốc 10.000.000 đồng, số tiền này đã được trừ vào tiền gốc ở lần vay sau. Trần Hoàng B đã thu 30 ngày lãi với số tiền 7.200.000 đồng; Số tiền lãi theo quy định mà Trần Hoàng B được hưởng là (60.000.000 đồng x 20%/năm + 365 ngày) x 30 ngày = 986.301 đồng. Trần Hoàng B hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính số tiền 7.200.000đồng – 986.301 đồng = 6.213.699 đồng. Hiện anh H đã trả đủ số tiền gốc của lần vay thứ 1 này cho B.
  • Lần vay thứ 2: Ngày 09/8/2024, anh Đặng Danh H vay Trần Hoàng B số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương mức lãi suất 146%/năm (Cao gấp 7,3 lần lãi suất cao nhất được hưởng do Bộ luật dân sự quy định) trong kỳ hạn 30 ngày. Mỗi ngày anh H pH trả số tiền 2.000.000 đồng tiền gốc của ngày đầu tiên và 10.000.000 đồng số tiền nợ của khoản vay thứ nhất. Đối với khoản vay này, anh Đặng Danh H đã trả cho Trần Hoàng B tổng số tiền gốc là 54.000.000 đồng và còn nợ tiền gốc là 6.000.000 đồng, số tiền này đã được trừ vào tiền vay gốc ở lần vay sau. Trần Hoàng B đã thu 30 ngày lãi với số tiền 7.200.000 đồng; số tiền lãi theo quy định mà Trần Hoàng B được hưởng là (60.000.000 đồng x 20%/năm + 365 ngày) x 30 ngày = 986.301 đồng. Trần Hoàng B hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.200.000 đồng - 986.301 đồng = 6.213.699 đồng. Hiện anh H đã trả đủ số tiền gốc của khoản vay này cho B.
  • Lần vay thứ 3: Ngày 05/9/2024 anh Đặng Danh H vay Trần Hoàng B số tiền số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương mức lãi suất 146%/năm (Cao gấp 7,3 lần lãi suất cao nhất được hưởng do Bộ luật dân sự quy định) trong kỳ hạn 30 ngày. Mỗi ngày anh H pH trả số tiền 2.000.000 đồng tiền vay gốc. Ngày 05/9/2024, B sử dụng tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0007737999999 chuyển cho anh H số tiền 44.800.000 đồng, Trần Hoàng B đã cắt 7.200.000 đồng tiền lãi của 30 ngày và 2.000.000 đồng tiền gốc của ngày đầu tiên và 6.000.000 đồng số tiền nợ của lần vay thứ hai. Đối với lần vay này, anh Đặng Danh H đã trả cho Trần Hoàng B tổng số tiền gốc là 54.000.000 đồng và còn nợ 6.000.000 đồng, số tiền này đã được trừ vào tiền vay gốc ở lần vay sau. Trần Hoàng B đã thu 30 ngày lãi với số tiền 7.200.000 đồng; số tiền lãi theo quy định mà Trần Hoàng B được hưởng là (60.000.000 đồng x 20%/năm + 365 ngày) x 30 ngày = 986.301 đồng. Trần Hoàng B hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.200.000đồng - 986.301 đồng = 6.213.699 đồng. Hiện anh H đã trả đủ số tiền gốc của lần vay này cho B.
  • Lần vay thứ 4: Ngày 05/10/2024 anh Đặng Danh H vay Trần Hoàng B số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất 4.000. đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương mức lãi suất 146%/năm (Cao gấp 7,3 lần lãi suất cao nhất được hưởng do Bộ luật dân sự quy định) trong kỳ hạn 30 ngày. Mỗi ngày anh H pH trả số tiền 2.000.000 đồng tiền vay gốc. Ngày 05/10/2024, B sử dụng tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0007737999999 chuyển cho anh H số tiền 44.800.000 đồng, Trần Hoàng B đã cắt 7.200.000 đồng tiền lãi của 30 ngày và 2.000.000 đồng tiền gốc của ngày đầu tiên và 6.000.000 đồng số tiền nợ của lần vay thứ ba. Đối với lần vay này, anh Đặng Danh H đã trả cho Trần Hoàng B tổng số tiền gốc là 50.000.000 đồng và còn nợ 10.000.000 đồng, số tiền này đã được trừ vào tiền gốc ở lần vay sau. Trần Hoàng B đã thu 30 ngày lãi với số tiền 7.200.000 đồng; số tiền lãi theo quy định mà Trần Hoàng B được hưởng là (60.000.000 đồng x 20%/năm + 365 ngày) x 30 = 986.301 đồng. Trần Hoàng B hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.200.000đồng - 986.301 đồng = 6.213.699 đồng. Hiện anh H đã trả đủ số tiền gốc của lần vay này cho B.
  • Lần vay thứ 5: Ngày 27/11/2024, anh Đặng Danh H vay Trần Hoàng B số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương mức lãi suất 146%/năm (Cao gấp 7,3 lần lãi suất cao nhất được hưởng do Bộ luật dân sự quy định) trong kỳ hạn 30 ngày. Mỗi ngày anh H pH trả số tiền 2.000.000 đồng tiền vay gốc. Ngày 27/11/2024, B sử dụng tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0007737999999 chuyển cho anh H số tiền 40.800.000 đồng, Trần Hoàng B đã cắt 7.200.000 đồng tiền lãi của 30 ngày và 2.000.000 đồng tiền gốc của ngày đầu tiên và 10.000.000 đồng số tiền nợ của lần vay thứ tư. Đối với lần vay này, anh Đặng Danh H đã trả cho Trần Hoàng B tổng số tiền gốc là 50.000.000 đồng và còn nợ tiền gốc 10.000.000 đồng. Trần Hoàng B đã thu 30 ngày lãi với số tiền 7.200.000 đồng; số tiền lãi theo quy định mà Trần Hoàng B được hưởng là (60.000.000 đồng x 20%/năm + 365 ngày) x 30 = 986.301 đồng. Trần Hoàng B hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 7.200.000 đồng - 986.301 đồng = 6.213.699 đồng.

Như vậy, từ ngày 15/7/2024 đến ngày 27/11/2024, Trần Hoàng B sử dụng số tiền gốc 120.000.000 đồng cho anh Đặng Danh H vay 05 lần tiền, mỗi lần vay trong thời hạn 30 ngày, mỗi lần vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày (lãi suất tỉnh theo ngày) tương đương 146%/01 năm. Trần Hoàng B đã thu của anh H số tiền 36.000.000 đồng tiền lãi. Theo quy định của pháp luật thì B được hưởng tiền lãi suất do Bộ luật Dân sự quy định là 4.931.507 đồng và thu lợi bất chính số tiền 31.068.493 đồng của anh H. Hiện anh Đặng Danh H còn nợ tiền gốc của Trần Hoàng B số tiền 10.000.000 đồng.

+. Đối với anh Nguyễn Ngọc T: Trần Hoàng B sử dụng số tiền gốc 10.000.000 đồng để cho anh Nguyễn Ngọc T vay tiền, cụ thể: Ngày 06/6/2024 anh Nguyễn Ngọc T vay Trần Hoàng B số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương mức lãi suất 146%/năm (Cao gấp 7,3 lần lãi suất cao nhất được hưởng do Bộ luật dân sự quy định) trong kỳ hạn 30 ngày. Mười ngày anh T pH trả 400.000 đồng tiền lãi. Ngày 06/6/2024, B sử dụng tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0007737999999 chuyển cho anh T số tiền 9.600.000 đồng, B đã cắt số tiền 400.000 đồng tiền lãi của 10 ngày đầu tiên. Từ ngày 06/6/2024 đến ngày 13/9/2024 anh Nguyễn Ngọc T đã trả cho Trần Hoàng B tiền lãi là 4.000.000 đồng/100 ngày. Từ ngày 14/9/2024 đến ngày 22/12/2024, Trần Hoàng B giảm tiền lãi suất xuống 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương mức lãi suất 109,5%/năm (Cao gấp 7,3 lần lãi suất cao nhất được hưởng do Bộ luật dân sự quy định) trong kỳ hạn 30 ngày. Đối với khoản vay này anh Nguyễn Ngọc T đã trả cho Trần Hoàng B tiền lãi là 3.000.000 đồng/100 ngày.

Đối với khoản vay này, từ ngày 06/6/2024 đến ngày 13/9/2024, Trần Hoàng B đã thu 100 ngày lãi với số tiền 4.000.000 đồng; số tiền lãi theo quy định mà Trần Hoàng B được hưởng là (10.000.000 đồng x 20%/năm + 365 ngày) x 100 ngày = 547.945 đồng. Trần Hoàng B hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 4.000.000 đồng - 547.945 đồng = 3.452.055 đồng. Từ ngày 14/9/2024 đến ngày 22/12/2024, Trần Hoàng B đã thu 100 ngày lãi với số tiền 3.000.000đồng; số tiền lãi theo quy định mà Trần Hoàng B được hưởng là (10.000.000 đồng x 20%/năm 365 ngày) x 100 ngày = 547.945 đồng. Trần Hoàng B hưởng lãi suất quá quy định và thu lợi bất chính số tiền là 3.000.000đồng - 547.945 đồng = 2.452.055 đồng

Như vậy, từ ngày 06/6/2024 đến ngày 13/9/2024, Trần Hoàng B cho anh Nguyễn Ngọc T vay 10.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, tương đương 146%/01 năm. Trần Hoàng B đã thu của anh T số tiền 4.000.000 đồng tiền lãi. Từ ngày 14/9/2024 đến ngày 22/12/2024, Trần Hoàng B giảm tiền lãi suất xuống 3.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 109,5%/01 năm. Trần Hoàng B đã thu của anh T số tiền 3.000.000 đồng tiền lãi. Tổng số tiền lãi anh Nguyễn Ngọc T trả cho Trần Hoàng B số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Theo quy định của pháp luật thì B được hưởng tiền lãi suất do Bộ luật Dân sự quy định là 1.095.890đồng và thu lợi bất chính số tiền 5.904.110 đồng. Hiện Nguyễn Ngọc T đang nợ B 10.000.000 đồng tiền gốc và số tiền 450.000 đồng tiền lãi từ ngày 22/12/2024 đến ngày 06/01/2025

Như vậy, tổng số tiền Trần Hoàng B cho anh Đặng Danh H, anh Nguyễn Ngọc T vay nhiều lần là 310.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 36.972.603 đồng. Đến ngày 07/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An triệu tập Trần Hoàng B. Tại Cơ quan điều tra, Trần Hoàng B đã xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

  • 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số Seri: F2LF33UMOD42, số Imei: 357210364290852, bên trong lắp sim số 0973799999 đã qua sử dụng. Hiện được B quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Vinh.

Tại bản cáo trạng số 125/CT – VKS - TPV ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Trần Hoàng B về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố và luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 201, các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Hoàng B từ 50.000.000 đồng đến 55.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

* Xử lý vật chứng:

  • Truy thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc dùng để cho vay và lãi suất tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự của bị cáo Đinh Trần B
    • +. Đối với khoản vay của Đặng Danh H: 110.000.000 đồng tiền gốc và 4.931.507 lãi suất tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự
    • +. Đối với khoản vay của Nguyễn Ngọc T: Lãi suất tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 1.095.890 đồng
  • Buộc bị cáo pH trả lại cho 02 người vay tiền thu lợi bất chính mà bị cáo thực tế đã thu là:
    • +. Đối với Đặng Danh H 31.068.493 đồng
    • +. Đối với Nguyễn Ngọc T: Thu lợi bất chính 5.904.110 đồng – 450.000đồng T còn nợ B = 5.454.110 đồng
  • Truy thu, sung vào ngân sách nhà nước 10.000.000 đồng số tiền gốc Trần Hoàng B cho Đặng Danh H vay nhưng H chưa trả và 10.000.000 đồng số tiền gốc Trần Hoàng B cho anh Nguyễn Ngọc T vay nhưng T chưa trả.

Tuy nhiên, để thuận lợi cho công tác thi hành án cần khấu trừ số tiền gốc 10.000.000đồng của anh H và 10.000.000 đồng của anh T vào số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo pH trả.

- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số Seri: F2LF33UMOD42, số Imei: 357210364290852, bên trong lắp sim số 0973799999 đã qua sử dụng thu giữ của Trần Hoàng B là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, đồng ý với nội dung bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và được Hội đồng xét xử sử dụng làm chứng cứ xem xét khi giải quyết vụ án.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa nhưng vắng mặt. Tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ; xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi của các bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đểu cơ sở kết luận:

Từ ngày 06/6/2024 đến ngày 27/11/2024, Trần Hoàng B dùng số tiền gốc 130.000.000 đồng cho anh Đặng Danh H, anh Nguyễn Ngọc T vay nhiều lần, thu lợi bất chính số tiền 36.972.603 đồng. Cụ thể như sau:

  • Dùng số tiền gốc 120.000.000 đồng cho anh Đặng Danh H vay 5 lần, mỗi lần 60.000.000 đồng trong thời hạn 30 ngày, với lãi suất là 146%/1 năm, thu lợi bất chính số tiền là 31.068.493 đồng.
  • Dùng số tiền gốc 10.000.000 đồng cho anh Nguyễn Ngọc T vay tiền 01 lần 10.000.000 đồng, trong thời hạn 100 ngày, lãi suất vay 109,5%/ 01 năm đến 146%/01 năm, thu lợi bất chính số tiền là 5.904.110 đồng.

Tổng số tiền thu lợi bất chính mà Trần Hoàng B pH chịu trách nhiệm hình sự là 36.972.603 đồng

Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự. Số tiền bị cáo thu lợi bất chính 36.972.603 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4]. Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính; ảnh hưởng nghiêm trọng đến các giao dịch dân sự, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm khác, gây bất bình trong dư luận. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi bất chính, coi thường pháp luật, bất chấp đạo lý thực hiện hành vi phạm tội. Việc khởi tố, điều tra, đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh, kịp thời là hết sức cần thiết nhằm xử lý và ngăn chặn hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự trên địa bàn.

[5]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú; có thành tích trong công tác phòng chống dịch Covid 19 được cấp có thẩm quyền tặng giấy khen quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ vào nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự về việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự cần xử phạt bị cáo hình phạt tiền là hình phạt chính. Mức hình phạt từ 50.000.000 đồng đến 55.000.000 đồng đối với bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là đảm B tính răn đe và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Truy thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc dùng để cho vay và lãi suất tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự của bị cáo Đinh Trần B:
    • +. Đối với khoản vay của Đặng Danh H: 110.000.000 đồng tiền gốc và 4.931.507 lãi suất tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà anh H đã trả lại cho bị cáo
    • +. Đối với khoản vay của Nguyễn Ngọc T: Lãi suất tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 1.095.890 đồng mà anh T đã trả cho bị cáo.
  • Buộc bị cáo pH trả lại cho 02 người vay tiền thu lợi bất chính mà bị cáo thực tế đã thu (Anh H: 31.068.493 đồng; anh T: 5.454.110 đồng). Truy thu, sung vào ngân sách nhà nước 10.000.000 đồng số tiền gốc bị cáo Trần Hoàng B cho H vay nhưng H chưa hoàn trả và 10.000.000 đồng số tiền gốc Trần Hoàng B cho anh Nguyễn Ngọc T vay nhưng T chưa hoàn trả.

Tuy nhiên, để thuận lợi cho công tác thi hành án cần khấu trừ số tiền gốc 10.000.000đồng của anh H và 10.000.000 đồng của anh T vào số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo pH trả cho họ. Sau khi khấu trừ, số tiền thu lợi bất chính bị cáo pH trả cho anh Đặng Danh H là 21.068.493 đồng. Số tiền gốc còn pH truy thu từ anh T là: 4.545.890 đồng.

Tổng số tiền truy thu, sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Đinh Trần B là 136.027.397 đồng (Gồm 130.000.000 đồng tiền gốc dùng để cho anh H, anh T vay và 6.027.397 đồng tiền lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự).

  • Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số Seri: F2LF33UMOD42, số Imei: 357210364290852, bên trong lắp sim số 0973799999 đã qua sử dụng thu giữ của Trần Hoàng B là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • [7] Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • [8] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng B 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
  3. Về xử lý vật chứng:
    • Truy thu, sung vào ngân sách nhà nước tổng số tiền gốc dùng để cho vay và lãi suất tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự của bị cáo Đinh Trần B là: 136.027.397 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu không trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng).
    • Buộc bị cáo pH trả lại cho anh Đặng Danh H là 21.068.493đ (Hai mươi mốt triệu không trăm sáu mươi tám nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng);
    • Truy thu sung quỹ nhà nước từ anh Nguyễn Ngọc T số tiền 4.545.890đ (Bốn triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng)
    • Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số Seri: F2LF33UMOD42, số Imei: 357210364290852, bên trong gắn 01 thẻ sim, đã qua sử dụng theo Phiếu nhập kho ngày 27/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
  4. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền pH trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên pH thi hành án còn pH chịu lãi suất của số tiền còn pH thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (Sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (Sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (Sửa đổi bổ sung năm 2014).
  6. Về án phí: Bị cáo Trần Hoàng B pH chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND TP Vinh;
  • - Chi Cục THADS TP Vinh;
  • - CQ Cảnh sát điều tra TP Vinh;
  • - Bị cáo, NCQLNVLQ
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 86/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hoàng Bảo- Cho vay lãi nặng trong GDDS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger