|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 86/2025/HSST Ngày: 25/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nam
Ông Phan Văn Hiếu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn H, sinh năm 2002; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị X; Gia đình có: 02 anh em, bị cáo là con lớn; Vợ, con: Chưa có.
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
- - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại giam, giữ Quế V - Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
- Mai Viết L, sinh năm 2002; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKThôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Mai Viết T và bà Nguyễn Thị Bích T1 (đã chết); Gia đình có: 02 chị em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có.
- - Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
- - Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Đức T2, sinh năm 1986
Địa chỉ: thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H và Mai Viết L là bạn bè của nhau và là các đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma tuý. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, khi cả hai đang ngồi uống nước tại cổng khu công nghiệp (KCN) Q thì có nhu cầu sử dụng ma tuý ketamine. H và L thống nhất góp tiền để mua ma tuý về sử dụng. H góp 1.000.000 đồng (một triệu đồng), L góp 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Sau đó, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave A màu trắng, BKS 99E1-273.71 chở H ngồi sau đi tìm mua ma tuý. Khi đi đến cây xăng trên đường QL18 thuộc xã N, thị gặp một nam thanh niên tên T3 là bạn ngoài xã hội của H có ma tuý bán. H xuống xe và hỏi mua của Triệu 1 chỉ ma tuý ke với giá 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng), T3 đồng ý, một tay cầm tiền, một tay đưa lại cho H 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa ma tuý ketamine. Biết là ma tuý cần mua nên H cất túi ma tuý vào túi áo khoác ngực phía trong bên trái rồi quay ra xe để cùng L đi tìm nơi sử dụng ma tuý. L và H đến nhà nghỉ B tại khu phố T thuộc 1 phòng để sử dụng ma tuý, khi vừa đến nơi hỏi thuê phòng thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ tang vật như trên.
* Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS 99E1-273.71, Mai Viết L mượn của anh Đỗ Đức T2, sinh năm 1986, HKTT: thôn H, xã N, thị xã Q (có quan hệ họ hàng với L) làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh T2, anh T2 không biết việc L mượn xe của mình để đi mua ma túy nên ngày 19/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả chiếc xe trên cho anh T2.
* Vật chứng còn lại
- - 01 (một) phong bì thư dán kín chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo quy định.
- - Tiền ngăn hàng N2: 400.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 103/KL-KTHS ngày 23/12/2024 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“Chất dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 1,1428 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.”
Ketamine là chất ma tuý được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục các chất ma túy và tiền chất”.
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn H và Mai Viết L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSQV ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Văn H và Mai Viết L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Mai Viết L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được và toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Mai Viết L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm g, khoản 1, Điều 249 ; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2024.
- - Áp dụng điểm g, khoản 1, Điều 249 ; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Mai Viết L từ 14 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp.
Bị cáo H và bị cáo L nhận tội, không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Mai Viết L tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được:
Hồi 23 giờ 00 phút ngày 20/12/2024 tại nhà nghỉ B thuộc khu phố T, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường C bắt quả tang Nguyễn Văn H và Mai Viết L có hành vi tàng trữ 1,1428 gram ma túy Ketamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Văn H và Mai Viết L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thị xã Q. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử đối với các bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3]. Xét về vai trò, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo: Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự phân công, phân nhiệm hay câu kết chặt chẽ, các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý thực hiện chung một loại tội phạm là tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, mục đích các bị cáo mua ma túy về để cùng nhau sử dụng. Do vậy, vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, do vậy các bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án.
[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Mai Viết L đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo L có ông ngoại là ông Nguyễn Quốc C được trao tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và Huân chương kháng chiến vẻ vang nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt phù hợp đối với từng bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, khó thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với người đàn ông tên T3 bán ma tuý cho L và H, các bị can không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với số tiền 400.000 đồng là tiền được dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS 99E1-273.71, Mai Viết L mượn của anh Đỗ Đức T2, sinh năm 1986, HKTT: thôn H, xã N, thị xã Q (có quan hệ họ hàng với L) làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh T2, anh T2 không biết việc L mượn xe của mình để đi mua ma túy nên ngày 19/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã trả chiếc xe trên cho anh T2 là đúng quy định của pháp luật.
[5]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Mai Viết L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Nguyễn Văn H và Mai Viết L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm g, khoản 1, Điều 249 ; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Văn H 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2024.
- - Áp dụng điểm g, khoản 1, Điều 249 ; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Mai Viết L 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2024.
Quyết định tạm giam các bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh (theo biên bản giao vật chứng số 71 ngày 20/02/2025 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ);
- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng (theo tiên lai thu tiền số 0001171 ngày 10/02/2025 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Văn H và Mai Viết L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười năm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán Chủ toạ phiên toà Trần Xuân Nhân |
Bản án số 86/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 86/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H. Mai Viết L - Tàng trữ trái phép chất ma túy
