TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/HS-ST Ngày 12-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 28/02/2025 đối với bị cáo:
Phạm Thị Ánh T, sinh năm 1979 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số E khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Phạm Đăng X, sinh năm 1939 (đã chết) và bà Vũ Thị M, sinh năm 1943; bị cáo có 05 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1969, nhỏ nhất sinh năm 1984; có chồng tên Từ Văn T1, sinh năm 1976; có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác.
- Người làm chứng:
1/ Ông Từ Văn T1;
2/ Bà Bùi Thị T2;
3/ Ông Phan Thanh D.
Tất cả người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị Ánh T làm nghề buôn bán tạp hoá, tại số E, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khoảng tháng 5/2024, Phạm Thị Ánh T quen biết người phụ nữ tên thường gọi là Bé B (không rõ nhân thân) và biết Bé Ba bán số đề cho các con bạc nên T xin làm trung gian ghi đề cho các con bạc rồi chuyển lại cho Bé B để hưởng tiền hoa hồng. Hai bên thoả thuận T ghi số đề 1.000.000 đồng thì được hưởng 100.000 đồng. Hàng ngày, Nguyễn Thị Ánh T3 ghi trực tiếp số đề cho các con bạc lên tờ giấy A4 (phơi đề), đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, Bé Ba đi xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave màu xanh dương (không rõ biển số) đến Cửa hàng tạp hoá của T3 để lấy phơi đề. Tiền thắng, thua sẽ tính và giao nhận trực tiếp vào ngày hôm sau, không liên lạc qua điện thoại, tài khoản Ngân hàng hay bất kỳ một ứng dụng nào khác.
Đến khoảng 16 giờ 40 phút, ngày 18/6/2024, Đ1 Công an thành phố D phát hiện Phạm Thị Ánh T có hành vi Đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề thắng, thua bằng tiền nên lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu đỏ đen, gắn sim số 0937.780.155; 01 (một) tờ giấy A4 có ghi các số lô, số đề, số tiền mua số lô, số đề và thu giữ 2.460.000 đồng.
Quá trình điều tra, Phạm Thị Ánh T đã khai nhận bán số lô, số đề cụ thể như sau:
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, T bán số lô, số đề cho các con bạc khác đến uống cà phê (không rõ nhân thân) như sau:
- + Đài Xổ số kiến thiết Vũng Tàu: Số H bao lô 1.000 đồng, đầu 15.000 đồng, đuôi 15.000 đồng; số 28 bao lô 5.000 đồng, đầu 50.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; số 24 bao lô 10.000 đồng; số 524 bao lô 3.000 đồng: số 915 bao lô 5.000 đồng, đầu 30.000 đồng, đuôi 30.000 đồng: số 68, 78, 59, 60, 51 đầu 12.000 đồng, đuôi 12.000 đồng; số 159, 199, 160, 151, 268 đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng: số 19.28.31 đá 500 đồng: số 779 đầu 30.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; số 763, 541 đầu 15.000 đồng, đuôi 15.000 đồng; 75, 57 đá xiên 1.000 đồng; số 57,75 đá 1000 đồng; số 01, 81 đá xiên 1.000 đồng; số 51 bao lô 5.000 đồng, đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng: số 55 đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; số 03 đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng; số 32 đầu 20.000 đồng, đuôi 20.000 đồng: số 932 đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng; số 624 đầu 12.000 đồng, đuôi 12.000 đồng: số 13, 31, 34, 43, 26 đá 500 đồng; số 383, 121, 147,417, 427, 483, 250, 839, 121, 147, 483 đầu 3.000 đồng, đuôi 3.000 đồng; số 963, 742, 366 bao lô 1.000 đồng; số 63 đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng; số 54, 66 đá 500 đồng: số 36, 63 đá 500 đồng; số 42,59 đá 500; số 527 bao lô 1.000 đồng; số 261 bao lô 1.000 đồng; sô 27, 04 đá 500 đồng. Kết quả xổ số không trúng. Tổng số tiền sử dụng Đánh bạc là 3.040.000 đồng.
- + Đài Xổ số kiến thiết tỉnh Bến Tre: Số G, 541 đầu 15.000 đồng, đuôi 15.000 đồng; số 75, 57 đá xiên 1.000 đồng; 57, 75 đá 1.000 đồng; 01, 81 đá xiên 1.000 đồng, 51 bao lô 5.000 đồng, đầu 6.000 đồng, đuôi 600 đồng; số 55 đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng: số 03 đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng; số 32 đầu 20.000 đồng, đuôi 20,000 đồng: số 932 đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng; số 624 đầu 12.000 đồng, đuôi 12.000 đồng: số 13, 31, 34, 43, 26 đá 500 đồng; số 923 đầu 20.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; số 23 bao lô 20.000 đồng; 79 bao lô 15.000 đồng; số 383, 121, 147. 417, 427, 483, 250, 839, 121, 147, 483 đầu 3.000 đồng, đuôi 3.000 đồng; số 963, 742, 366 bao lô 1.000 đồng; số 63 đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng; số 54, 66 đá 500 đồng: 36, 63 đá 500 đồng: 42, 59 đá 500 đồng; số 527 bao lô 1.000 đồng, số 261 bao lô 1.000 đồng; số 27.04 đã 500 đồng. Kết quả xổ số không trúng. Tổng số tiền sử dụng Đánh bạc là 1.583.000 đồng.
- + Đài xổ số kiến thiết tỉnh Bạc Liêu: Số C, 121, 147, 417, 427, 483, 250, 839, 121, 147, 483 đầu 3.000 đồng, đuôi 3.000 đồng: số 963, 742, 366 bao lô 1.000 đồng; số 63 đầu 6.000 đồng, đuôi 6.000 đồng: số 54. 60 đá 500 đồng; số 36.63 đá 500 đồng; số 42.59 đá 500; số 527 bao lô 1.000 đồng, số 261 bao lô 1000 đồng; số 27, 04 đá 500 đồng; số 24, 11 đầu 25.000 đồng, đuôi 5.000 đồng; số 01 đầu 20.000 đồng, đuôi 4.000. đồng; số 24 đầu 10.000 đồng, đuôi 2.000 đồng: số 52, 29 đầu 50.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; số 11 đầu 100.000 đồng, đuôi 12.000 đồng. Kết quả xổ số không trúng. Số tiền sử dụng Đánh bạc là: 563.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 18/6/2024, T bán số lô, số đề cho các con bạc sau:
- - Phan Thanh D: Đài xổ số kiến thiết tỉnh Vũng Tàu các số 32 bao lô 50.000 đồng, 58, 32 đá 10.000 đồng. Kết quả xổ số không trúng. Tổng số tiền sử dụng Đánh bạc là 1.260.000 đồng.
- - Bùi Thị T2: Đài xổ số kiến thiết tỉnh Vũng Tàu các số 29 bao lô 5.000 đồng, đầu 15.000 đồng, đuôi 15.000 đồng. Kết quả xổ số không trúng. Số tiền sử dụng Đánh bạc là: 120.000 đồng; đài xổ số kiến thiết tỉnh Bến Tre các số 29 bao lô 5.000 đồng, đầu 15.000 đồng, đuôi 15.000 đồng. Kết quả xổ số không trúng. Số tiền sử dụng Đánh bạc là 120.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng Đánh bạc ngày 18/6/2024 giữa T và Bùi Thị T2 là: 240.000 đồng.
Tổng số tiền Phạm Thị Ánh T mua bán số lô, số đề của các Đài xổ số Miền Nam ngày 18/6/2024 là 5.186.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng Đánh bạc là 5.186.000 đồng.
- Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
- + 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu đỏ đen, gắn sim số 0937.780.155, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên đã trả lại cho bị cáo.
- + Số tiền 2.460.000 (hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng, là khoản tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- + 01 (Một) tờ giấy A4 có ghi các số lô, số đề là chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu hồ sơ vụ án.
Đối với hành vi mua số lô, số đề của Phan Thành D1 và Bùi Thị T2 do chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, Phan Thành D1 và Bùi Thị T2 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc”, và “Tổ chức Đánh bạc” nên ngày 21/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định xử phạt 350.000 đồng/người về hành vi hành vi Mua bán số lô, số đề. Phan Thành D1 và Bùi Thị T2 đã nộp phạt theo Biên lai thu thuế, phí, lệ phí và thu phạt vi phạm hành chính ngày 21/10/2024.
Đối với đối tượng tên Bé B (không rõ nhân thân) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Thông báo truy tìm và tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 63/CT-VKS-DA ngày 15 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Thị Ánh T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Ánh T từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 2.460.000 đồng; buộc bị cáo Phạm Thị Ánh T nộp lại 2.726.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn xứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T3 có hành vi Đánh bạc dưới hình thức Mua bán số lô, số đề vào ngày 18/6/2024 của Đài Xổ số kiến thiết V số tiền 3.040.000 đồng, Đài Xổ số kiến thiết tỉnh Bến Tre số tiền 1.583.000 đồng, Đ Xổ số kiến thiết Bạc Liêu số tiền 563.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng Đánh bạc là 5.186.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Thị Ánh T đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề nhằm thu lợi là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người lao động, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, số tiền đánh bạc không lớn. Sau khi được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội, đồng thời có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án đối với bị cáo.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục nên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng: Xét số tiền 5.186.000 đồng, bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, quá trình tố tụng đã thu giữ của bị cáo 2.460.000 đồng nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước và buộc bị cáo nộp lại 2.726.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Xét 01 (một) tờ giấy A4 có ghi các số lô, số đề là tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần lưu trữ trong hồ sơ.
[9] Đối với hành vi mua số lô, số đề của Phan Thành D1 và Bùi Thị T2 do chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, Phan Thành D1 và Bùi Thị T2 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc”, và “Tổ chức Đánh bạc” nên ngày 21/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định xử phạt 350.000 đồng/người về hành vi hành vi Mua bán số lô, số đề. Phan Thành D1 và Bùi Thị T2 đã nộp phạt theo Biên lai thu thuế, phí, lệ phí và thu phạt vi phạm hành chính ngày 21/10/2024.
Đối với đối tượng tên Bé B (không rõ nhân thân) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Thông báo truy tìm và tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với ông Từ Văn T1 là chồng của bị cáo Phạm Thị Ánh T nhưng không biết bị cáo sử dụng cửa hàng tạp hóa là nơi ghi số đề, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là phù hợp.
[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D là phù hợp nên chấp nhận.
[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ánh T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ánh T 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Phạm Thị Ánh T.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 2.460.000 (hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng;
(Theo lệnh thanh toán số 2520410305707420 của Ngân hàng N).
- Buộc bị cáo Phạm Thị Ánh T nộp lại 2.726.000 (hai triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 2.460.000 (hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng;
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Thị Ánh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |
Bản án số 86/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 86/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Ánh T phạm tội Đánh bạc
