TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/DS-ST
Ngày: 07-3-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Trung Kiên;
- Bà Nguyễn Minh Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 645/2024/TLST- DS ngày 05/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-DS ngày 10/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K; trụ sở: 40-42-44 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Chí C, sinh năm 2000; địa chỉ: I C, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền số 3777/QĐ-NHKL ngày 20/9/2023).
- Bị đơn: Ông Trảo Văn T, sinh năm 1994; địa chỉ thường trú: thôn C, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; địa chỉ cư trú: 4 T, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần K do ông Nguyễn Chí C làm người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông Trảo Văn T có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (sau đây gọi tắt là Ngân hàng H1) Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế H1 số 064/19/TC/1508-2351 ký ngày 20/09/2019. Ông T được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng; lãi suất cho vay: 22%/năm; lãi suất chậm trả: 3.5%/kỳ; phí vượt hạn mức: 0.075%/ngày; kỳ hạn trả lãi vay: hàng tháng; kỳ hạn trả nợ gốc: thanh toán tối thiểu so với dư nợ trong kì là 5%, tỷ lệ này do H1 quy định và có thể thay đổi trong từng thời kì; số tiền thanh toán tối thiểu mỗi kì = 5%*(Dư nợ cuối kì - số tiền vượt mức trong kì - số tiền trả góp trong kì) + Số tiền vượt hạn mức trong kỳ + số tiền trả góp trong kì; dư nợ cuối kì = dư nợ đầu kì – các khoản đã thanh toán trong kỳ + các khoản chi tiêu trong kỳ + phí + lãi; lãi suất vay: theo quy định của H1 phù hợp với quy định của pháp luật trong từng thời kỳ; các loại phí Theo thỏa thuận tại Điều 2 và Điều 3 Phụ lục 1 Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế H1; hình thức thanh toán: lãi và gốc trả từ ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng.
Đến hạn trả nợ Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, yêu cầu ông T thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng nhưng ông T không thực hiện nên đã vi phạm hợp đồng đã ký. Tạm tính đến ngày 08/01/2025, ông T còn nợ Ngân hàng số tiền 114.684.171 đồng, trong đó bao gồm 49.942.811 đồng tiền vốn gốc, 38.488.541 đồng tiền nợ lãi, 20.090.274 đồng phí phạt chậm trả và 6.162.545 phí phạt vượt hạn mức.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trảo Văn T phải thanh toán một lần cho Ngân hàng K số tiền tạm tính đến ngày 08/01/2025 là: 114.684.171 đồng. Từ ngày 09/01/2025, ông T còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế H1 số 064/19/TC/1508-2351 ký ngày 20/09/cho đến khi thanh toán dứt nợ. Yêu cầu thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn – ông Trảo Văn T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lên Tòa để trình bày ý kiến; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần K giữ nguyên ý kiến và yêu cầu khởi kiện đã trình bày trước Tòa. Đề nghị Tòa án buộc ông Trảo Văn T phải thanh toán một lần cho Ngân hàng K số tiền tính đến ngày 07/3/2025 là: 118.594.155 đồng (bao gồm: 49.942.811 đồng tiền vốn gốc, 40.738.525 đồng tiền nợ lãi, 21.384.820 đồng phí phạt chậm trả và 6.527.999 phí phạt vượt hạn mức). Yêu cầu thanh toán làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn – ông Trảo Văn T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên không rõ ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự cùng ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần K khởi kiện yêu cầu ông Trảo Văn T trả các khoản tiền còn thiếu theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế H1 số 064/19/TC/1508-2351 ký ngày 20/09/2019. Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Trảo Văn T có địa chỉ cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn - ông Trảo Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán ngay tiền nợ gốc và các khoản lãi, phí kèm theo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế H1 số 064/19/TC/1508-2351 ký ngày 20/09/2019 thể hiện ông T yêu cầu Ngân hàng K cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng. Căn cứ vào bản tóm tắt sao kê ngày 08/01/2025 thì ông T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 114.684.171 đồng, trong đó bao gồm 49.942.811 đồng tiền vốn gốc, 38.488.541 đồng tiền nợ lãi, 20.090.274 đồng phí phạt chậm trả và 6.162.545 phí phạt vượt hạn mức.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho bị đơn, bị đơn đã biết về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến tranh chấp hay phản đối. Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 07/3/2025 (ngày xét xử) là: 118.594.155 đồng như nguyên đơn trình bày. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số tiền còn thiếu nêu trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả toàn bộ số công nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nợ 118.594.155 đồng phải trả cho nguyên đơn. Án phí bị đơn phải chịu là 5.929.708 đồng.
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần K:
Ông Trảo Văn T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền nợ tính đến ngày 07/3/2025 là 118.594.155 (Một trăm mười tám triệu, năm trăm chín mươi bốn ngàn, một trăm năm mươi lăm) đồng; trong đó bao gồm: 49.942.811 đồng tiền vốn gốc, 40.738.525 đồng tiền nợ lãi, 21.384.820 đồng phí phạt chậm trả và 6.527.999 phí phạt vượt hạn mức; để chấm dứt nghĩa vụ thanh toán theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế H1 số 064/19/TC/1508-2351 ngày 20/09/2019 mà các bên đã ký kết.
Phương thức và thời hạn trả: Trả làm một lần toàn bộ số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tiền lãi được tiếp tục phát sinh kể từ ngày 08/3/2025 theo mức lãi suất do các bên đã thỏa thuận trong Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế H1 số 064/19/TC/1508-2351 ngày 20/09/2019 cho đến khi ông Trảo Văn T trả hết nợ.
- Về án phí:
Ông Trảo Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.929.708 (Năm triệu, chín trăm hai mươi chín ngàn, bảy trăm lẻ tám) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.175.494 (Hai triệu, một trăm bảy mươi lăm ngàn, bốn trăm chín mươi bốn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001303 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hiếu |
Bản án số 86/2025/DS-ST ngày 07/03/2025 của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 86/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trảo Văn T có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (sau đây gọi tắt là Ngân hàng H1) Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế H1 số 064/19/TC/1508-2351 ký ngày 20/09/2019. Ông T được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng; mục đích vay: tiêu dùng; lãi suất cho vay: 22%/năm; lãi suất chậm trả: 3.5%/kỳ; phí vượt hạn mức: 0.075%/ngày; kỳ hạn trả lãi vay: hàng tháng; kỳ hạn trả nợ gốc: thanh toán tối thiếu so với dư nợ trong kì là 5%, tỷ lệ này do H1 quy định và có thể thay đổi trong từng thời kì; số tiền thanh toán tối thiểu mỗi kì = 5%*(Dư nợ cuối kì - số tiền vượt mức trong kì - số tiền trả góp trong kì) + Số tiền vượt hạn mức trong kỳ + số tiền trả góp trong kì; dư nợ cuối kì = dư nợ đầu kì – các khoản đã thanh toán trong kỳ + các khoản chi tiêu trong kỳ + phí + lãi; lãi suất vay: theo quy định của H1 phù hợp với quy định của pháp luật trong từng thời kỳ; các loại phí Theo thỏa thuận tại Điều 2 và Điều 3 Phụ lục 1 Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế H1; hình thức thanh toán: lãi và gốc trả từ ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng.
