|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hải Bằng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Dương Thị Kim Hồng |
| Bà Nguyễn Thị Bích Liên |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 648/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/02/2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Q, sinh năm 1987; địa chỉ đăng ký thường trú: Thôn P, xã L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; hiện đang ở Đài Loan.
Người được nguyên đơn uỷ quyền giao nhận văn bản: Công ty L và cộng sự ; địa chỉ: Ngõ D D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội; người được uỷ quyền lại là chị Phan Thị Ngọc Á – nhân viên công ty.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn P, xã L, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn P, xã L, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự vắng mặt, đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nguyên đơn là chị Trần Thị Q và người được nguyên đơn uỷ quyền giao nhận văn bản là chị Phan Thị Ngọc Á trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã L, thành phố H vào ngày 10/10/2006. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xảy ra tranh cãi. Năm 2017 chị Q đi Đài Loan xây dựng kinh tế. Do khoảng cách địa lý, vợ chồng sống xa nhau nên dần dần có nhiều bất đồng quan điểm, tính cách vợ chồng không còn hoà hợp, tình cảm dần lạnh nhạt. Vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay, mặc dù nhiều lần tìm kiếm tiếng nói chung nhưng không đi đến kết quả. Chị Q xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cả hai không còn quan tâm đến nhau nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị Q được ly hôn anh H.
- Về quan hệ con chung: Chị Q và anh H có 01 con chung là Nguyễn Đức H1 sinh ngày 30/8/2008, hiện đang ở cùng bà ngoại là bà Nguyễn Thị Q1. Khi ly hôn chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành, tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Thời gian chị Q ở nước ngoài thì đề nghị tạm giao cho bà Q1 chăm sóc thay chị Q.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Chị Q đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt, uỷ quyền cho Công ty L và cộng sự giao nhận văn bản với Toà án. Công ty L cử chị Á thực hiện uỷ quyền của chị Q. Chị Á cam kết thực hiện đúng nội dung uỷ quyền.
Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị Q tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn gì. Khoảng năm 2017 – 2018 chị Q đi lao động ở Đài Loan, từ đó đến nay chị Q có về thăm nhà 02 nhưng lần thứ hai chị Q không về nhà anh H mà về nhà bố mẹ đẻ. Khoảng 1 – 2 năm đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc nhưng chị Q đã tự cắt đứt liên lạc với anh H khoảng 3 - 4 năm nay. Anh H cũng không rõ nguyên nhân tại sao chị Q cư xử như vậy. Nay chị Q xin ly hôn thì tuỳ chị Q giải quyết còn quan điểm của anh H là không bỏ vợ.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đức H1 sinh ngày 30/8/2008, trước đây cháu H1 ở với bà ngoại, thời gian gần đây mới về ở với anh H. Anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung đến khi trưởng thành, tự nguyện không yêu cầu chị Q cấp dưỡng mà chị Q phải tự ý thức trách nhiệm của người mẹ, gửi cho con bao nhiêu là tuỳ chị Q.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Anh H từ chối làm việc tại Toà án, đề nghị Toà án gửi văn bản qua đường bưu điện cho anh H.
Tại bản trình bày ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Q1 trình bày: Con gái bà là chị Q kết hôn với anh H. Vợ chồng có con chung là Nguyễn Đức H1 sinh ngày 30/8/2008, cháu H1 đang ở với bà. Khi ly hôn chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 nhưng chị Q đang ở Đài Loan nên bà Q1 đồng ý thay chị Q chăm sóc cháu H1 đến khi chị Q về Việt Nam.
Tại phiên tòa:
Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương: Về việc tuân theo pháp luật, từ khi thụ lý đến phiên toà, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng cơ bản chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định của pháp luật, xử cho chị Trần Thị Q ly hôn anh Nguyễn Văn H; giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; ghi nhận sự tự nguyện của anh H về việc không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con; chị Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm (đã nộp).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Chị Q đề nghị Tòa án giải quyết về ly hôn, con chung với anh H. Chị Q, anh H đều đăng ký thường trú tại tỉnh Hải Dương nhưng chị Q hiện đang ở nước ngoài. Do đó căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về tính hợp pháp của văn bản: Các văn bản của chị Q ở nước ngoài lập bằng tiếng Việt, có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài nên công nhận các văn bản này theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 478 BLTTDS.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227; Điều 228 BLTTDS, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh H tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh. Năm 2017 chị Q đi Đài Loan lao động đến nay, chỉ về thăm nhà 02 lần. Chị Q xác định do sống xa nhau nên vợ chồng dần dần có nhiều bất đồng quan điểm, tính cách không còn hoà hợp, tình cảm lạnh nhạt. Anh H xác định vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng chị Q tự cắt đứt liên lạc với anh H 3 – 4 năm nay, khi về Việt Nam cũng không thăm anh H. Xét thấy hôn nhân giữa chị Q và anh H đã rơi vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân nhiều năm, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Q xin ly hôn thì quan điểm của anh H là tuỳ chị Q. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ), cần chấp nhận cho chị Q ly hôn anh H.
[3] Về quan hệ con chung: Chị Q và anh H có 01 con chung là Nguyễn Đức H1 sinh ngày 30/8/2008. Chị Q và anh H đều có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy hiện chị Q ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp nuôi con chung. Anh H ở Việt Nam có thể trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung. Con chung thời gian trước ở với bà ngoại là bà Q1 nhưng hiện ở với anh H vẫn được đảm bảo điều kiện sinh sống, học tập đầy đủ. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ, giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Anh H đã được giải thích việc cấp dưỡng là để đảm bảo quyền lợi của con chung nhưng vẫn tự nguyện không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con nên cần ghi nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Q và anh H đều không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chị Q là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 273, khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 478, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Q.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Q ly hôn anh Nguyễn Văn H.
-
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đức H1 sinh ngày 30/8/2008 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn H về việc không yêu cầu chị Trần Thị Q cấp dưỡng nuôi con.
Chị Trần Thị Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Trần Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đối trừ với 300.000 đồng tiền tạm ứng do chị Phan Thị Ngọc Á nộp thay tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương ngày 29/11/2024 theo biên lai ký hiệu BLTU/23, số 0005385; chị Q đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Hải Bằng |
Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Q xin ly hôn anh Nguyễn Văn H
