|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 86/2024/HS-ST Ngày: 21-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hữu Thiện;
2. Ông Đoàn Tấn Tiên.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Mai Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 07/2024/QĐ-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 2004, tại tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện tại: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Chăm; giới tính: Nữ; tôn giáo: Hồi giáo; con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1982 và bà Sa Fi D, sinh năm 1980; chồng tên Lê Phương A, sinh năm 1999; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị hại: (có 08 bị hại)
+ Chị Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1994; cư trú tại: Ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang;
+ Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 2001; thường trú tại: Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre, chỗ ở hiện tại: Ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh;
+ Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 2000; cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An;
+ Chị Huỳnh Hồng H, sinh năm 1999; cư trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên;
+ Chị Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1996; cư trú tại: Khóm H, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;
+ Chị Ôn Thị Kim N, sinh năm 2001; cư trú tại: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
+ Chị Mai Thị N1, sinh năm 1978; cư trú tại: Số C đường T, Khóm G, Phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
+ Chị Nguyễn Thị My N2, sinh năm 1999; cư trú tại: Số B đường số D, thôn C, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Các bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 11-2023, trong thời gian có thai, do không có việc làm nhưng muốn có tiền sinh sống nên Nguyễn Thị Thùy L nảy sinh ý định sử dụng điện thoại di động truy cập internet giả vờ bán quần áo giá rẻ qua mạng Zalo để chiếm đoạt tiền đặt cọc của người mua hàng. L tạo tài khoản Zalo “Shop đồ bộ P lụa xước” để đăng tải thông tin quảng cáo bán quần áo với giá sỉ và tạo các nhóm Zalo do L làm trưởng nhóm, chủ động kết bạn với các chủ tiệm bán quần áo trên cả nước để tham gia mua hàng với giá sỉ. Sau khi chào hàng, L yêu cầu người mua (bị hại) chuyển khoản qua ngân hàng tiền đặt cọc trước để khi nhận hàng không mất phí vận chuyển. Sau khi nhận tiền đặt cọc do người mua (bị hại) chuyển vào tài khoản ngân hàng A1 số tài khoản 6506275332250 do L làm chủ tài khoản hoặc vào ví Momo của L, L chặn mọi liên lạc, xóa tài khoản Zalo của người mua (bị hại) ra khỏi nhóm và chiếm đoạt số tiền đặt cọc mà người mua (bị hại) đã chuyển. Từ ngày 02-11-2023 đến ngày 01-12-2023, cùng phương thức, thủ đoạn trên, bị cáo L đã thực hiện chiếm đoạt tiền đặt cọc mua hàng của các bị hại, cụ thể như sau:
+ Đối với chị Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1994, ngụ ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang: Khoảng đầu tháng 11-2023, chị Ý sử dụng zalo tên T2 tham gia nhóm Z “Sỉ đồ bộ Pijama số lượng” do L làm trưởng nhóm để hỏi mua quần áo với giá sỉ. Từ ngày 02-11-2023 đến ngày 03-11-2023, chị Ý đã chuyển tiền đặt cọc cho L 02 lần vào tài khoản ngân hàng A1 của L với số tiền 787.000 đồng.
+ Đối với chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 2001, ngụ ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh: Khoảng giữa tháng 11-2023, chị T sử dụng Zalo tên Nguyễn Thị Ngọc T tham gia nhóm Z “Nhóm 3 cập nhật mẫu mới nhà L” do L làm trưởng nhóm để hỏi mua quần áo với giá sỉ về bán lại cho người khác. Từ ngày 14-11-2023 đến ngày 18-11-2023, chị T đã chuyển tiền đặt cọc qua ví M cho L 07 lần với tổng số tiền 2.684.000 đồng.
+ Đối với chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 2000, ngụ ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An: Khoảng giữa tháng 11-2023, chị T1 sử dụng Zalo tên Thanh T1 tham gia nhóm Zalo “Shop đồ bộ Pijama” do L làm trưởng nhóm để hỏi mua quần áo với giá sỉ. Từ ngày 20-11-2023 đến ngày 25-11-2023, chị T1 đã chuyển tiền đặt cọc cho L 02 lần vào tài khoản ngân hàng A1 của L với số tiền 2.020.000 đồng.
+ Đối với chị Huỳnh Hồng H, sinh năm 1999, ngụ thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên: Khoảng cuối tháng 11-2023, chị H sử dụng Zalo tên Hồng H tham gia nhóm Z “Sỉ đồ bộ Pijama số lượng” do L làm trưởng nhóm để hỏi mua quần áo với giá sỉ. Từ ngày 24-11-2023 đến ngày 25-11-2023, chị H đã chuyển tiền đặt cọc cho L 02 lần vào tài khoản ngân hàng A1 của L với số tiền 4.160.000 đồng.
+ Đối với chị Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1996, ngụ khóm H, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh: Khoảng cuối tháng 11-2023, chị X sử dụng Zalo tên X tham gia nhóm Z “Sỉ đồ bộ Pijama số lượng” do L làm trưởng nhóm để hỏi mua quần áo với giá sỉ. Ngày 26-11-2023, chị X đã chuyển tiền đặt cọc cho L 01 lần vào tài khoản ngân hàng A1 của L với số tiền 2.655.000 đồng.
+ Đối với chị Ôn Thị Kim N, sinh năm 2001, ngụ thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận: Khoảng cuối tháng 11-2023, chị N sử dụng Zalo tên Kim N tham gia nhóm Z “Sỉ đồ bộ Pijama số lượng” do L làm trưởng nhóm để hỏi mua quần áo với giá sỉ. Ngày 28-11-2023, chị N đã chuyển tiền đặt cọc cho L 01 lần vào tài khoản ngân hàng A1 của L với số tiền 1.900.000 đồng.
+ Đối với chị Mai Thị N1, sinh năm 1978, ngụ khóm G, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang: Khoảng cuối tháng 11-2023, chị N1 sử dụng Zalo tên Huỳnh M1 tham gia nhóm Zalo “Shop đồ bộ Pijama” do L làm trưởng nhóm để hỏi mua quần áo với giá sỉ. Ngày 30-11-2023, chị N1 đã chuyển tiền đặt cọc cho L 01 lần vào tài khoản ngân hàng A1 của L với số tiền 1.530.000 đồng.
+ Đối với chị Nguyễn Thị My N2, sinh năm 1999, ngụ số B, đường số D, thôn C, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế: Khoảng đầu tháng 12-2023, chị N2 sử dụng Zalo tên HNy tham gia nhóm Z “Sỉ đồ bộ Pijama số lượng” do L làm trưởng nhóm để hỏi mua quần áo với giá sỉ. Ngày 01-12-2023, chị N2 đã sử dụng tài khoản ngân hàng tên Nguyễn Thị Thu N3 (là chị ruột của chị N2) chuyển tiền đặt cọc cho L 01 lần vào tài khoản ngân hàng A1 của L với số tiền 8.350.000 đồng.
Quá trình điều tra, L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Về vật chứng thu giữ trong vụ án: Thu giữ của bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y17S, màu xanh, số IMEI 1:860517062739364, số IMEI 2: 86051706279372; 01 (một) thẻ ngân hàng A1, số I, tên chủ thẻ Nguyễn Thị Thùy L.
Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện L không có sở hữu tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện D không tiến hành kê biên.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều yêu cầu bị cáo L trả lại số tiền đã chiếm đoạt.
Tại Cáo trạng số: 72/CT-VKSDMC ngày 02-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thuỳ Linh về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 174; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy L từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo và các bị hại vắng mặt nên không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện D; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra đến khi đưa vụ án ra xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về sự vắng mặt của bị cáo và các bị hại:
[2.1] Đối với bị cáo: Bị cáo hiện đang sinh sống ở huyện T, tỉnh Đồng Pháp, có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi (bị cáo sinh con thứ ba vào ngày 23-12-2023), gia cảnh khó khăn, điều kiện đi lại xa xôi, đã có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt do không đủ điều kiện kinh tế và sức khoẻ đến dự phiên toà trực tiếp, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận đề nghị xin xét xử vắng mặt của bị cáo.
[2.2] Đối với các bị hại: 08 bị hại trong vụ án ở nhiều tỉnh thành trong cả nước, đã có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời giữ nguyên yêu cầu đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật, buộc bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét xử vắng mặt các bị hại.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai, Hội đồng xét xử xét bản tường trình, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
[3.1] Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trong thời gian ngắn từ ngày 02-11-2023 đến 01-12-2023, thông qua mạng internet, bị cáo đã tạo tài khoản Zalo “Shop đồ bộ Pijama lụa xước”, tạo nhiều hội nhóm do bị cáo là trưởng nhóm về buôn bán quần áo, đưa ra thông tin gian dối có nguồn hàng giá rẻ, đồng thời chủ động liên lạc với các bị hại có nhu cầu kinh doanh quần áo ở nhiều tỉnh: Tây Ninh, An Giang, Long An, Phú Yên, Trà Vinh, Bình Thuận và Thừa Thiên H1, sau khi các bị hại chuyển tiền đặt cọc cho bị cáo thì bị cáo chặn liên lạc và chiếm đoạt tiền đặt cọc mua hàng, tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 24.086.000 đồng, đủ căn cứ xác định Nguyễn Thị Thùy L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[3.2] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn tại nhiều tỉnh thành trong cả nước. Bị cáo không có việc làm trong thời gian có thai, sử dụng tài khoản Zalo chủ động liên lạc đưa ra nhiều thông tin, hình ảnh về nguồn quần áo giá rẻ, dụ dỗ các bị hại chuyển tiền đặt cọc để hưởng ưu đãi về vận chuyển, sau khi nhận được tiền đặt cọc thì bị cáo chặn liên lạc nhằm chiếm đoạt tiền, bị cáo thực hiện hành vi liên tục trong thời gian ngắn, sử dụng tiền bị cáo chiếm đoạt được làm nguồn sống chính, đủ cơ sở xác định bị cáo “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xử lý nghiêm bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Trong các lần thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, có 03 lần bị cáo chiếm đoạt số tiền hơn 2.000.000 đồng, do đó, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội trong thời gian có thai, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt, hiện bị cáo chưa bồi thường cho bị hại nào nên cần buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại, cụ thể như sau:
- [6.1] Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Như Ý số tiền: 787.000 đồng;
- [6.2] Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Ngọc T số tiền: 2.684.000 đồng;
- [6.3] Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền: 2.020.000 đồng;
- [6.4] Bồi thường cho chị Huỳnh Hồng H số tiền: 4.160.000 đồng;
- [6.5] Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Kim X số tiền: 2.655.000 đồng;
- [6.6] Bồi thường cho chị Ôn Thị Kim N số tiền: 1.900.000 đồng;
- [6.7] Bồi thường cho chị Mai Thị N1 số tiền: 1.530.000 đồng;
- [6.8] Bồi thường cho chị Nguyễn Thị My N2 số tiền: 8.350.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với điện thoại di động bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, riêng thẻ Ngân hàng do bị cáo đứng tên, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[8] Từ những nhận định trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 05% án phí dân sự sơ thẩm đối với tổng số tiền buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại là 24.086.000 đồng = 1.205.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 174, điểm n, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 46, Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 588 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại, cụ thể như sau:
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Như Ý số tiền: 787.000 (bảy trăm tám mươi bảy nghìn) đồng;
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Ngọc T số tiền: 2.684.000 (hai triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn) đồng;
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền: 2.020.000 (hai triệu không trăm hai mươi nghìn) đồng;
- Bồi thường cho chị Huỳnh Hồng H số tiền: 4.160.000 (bốn triệu một trăm sáu mươi nghìn) đồng;
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Kim X số tiền: 2.655.000 (hai triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn) đồng;
- Bồi thường cho chị Ôn Thị Kim N số tiền: 1.900.000 (một triệu chín trăm nghìn) đồng;
- Bồi thường cho chị Mai Thị N1 số tiền: 1.530.000 (một triệu năm trăm ba mươi nghìn) đồng;
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị My N2 số tiền: 8.350.000 (tám triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
3.1 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y17S, màu xanh, số IMEI 1:860517062739364, số IMEI 2: 860517062739372
3.2 Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) thẻ ngân hàng A1, số I, tên chủ thẻ Nguyễn Thị Thùy L.
Hiện nay, Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu đang quản lý vật chứng trên.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.205.000 (một triệu hai trăm lẻ năm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bị cáo và các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Cẩm Hà |
Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 86/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thuỳ L dùng thủ đoạn gian dối tạo nhiều nhóm bán hàng bằng zalo lừa khách đặt cọc và chiếm đoạt
