Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HS-PT

Ngày 15-10-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.

Các thẩm phán:

Bà Đỗ Thị Hà

Ông Vũ Duy Luân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân T - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo Phạm Tuấn A, Bùi Đình H, Đào Hùng D, do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Tuấn A, Bùi Đình H, Đào Hùng D đối với bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Tuấn A, sinh ngày 17/02/2007 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đình T1 và bà Dương Thị K; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà)

2. Bùi Đình H, sinh ngày 07/7/2006 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Bùi Đình H1 và bà Nguyễn Thị L; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 244/QĐ-XPVPHC ngày 02/11/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ phạt tiền 6.500.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng, có mang theo vũ khí thô sơ, đồ vật có khả năng sát thương và cố ý gây thương tích cho người khác, nộp phạt ngày 23/11/2022; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà)

3. Đào Hùng D, sinh ngày 27/6/2006 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp trước khi bị khởi tố: Học sinh lớp 11A3 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Công T2 và bà Đào Thị N; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; Bị cáo đi chấp hành án phạt tù theo Quyết định Thi hành án phạt tù số 267/2024/QĐ-CA ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 03/10/2024. Hiện đang bị giam giữ tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. (Trích xuất có mặt)

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Tuấn A: Ông Phạm Đình T1, sinh năm 1971 và bà Dương Thị K, sinh năm 1972; Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt ông T1; vắng mặt bà K)

* Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Tuấn A, Bùi Đình H, Đào Hùng D: Bà Nguyễn Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. (Có mặt)

* Bị hại: Anh Phạm Hữu Tuấn A, sinh ngày 11/12/2007 (Vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Thị Thanh D1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Đinh Thị T3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. (Vắng mặt)

2.5. Đại diện Đ thanh niên xã T: Bà Nguyễn Thị D2. (Vắng mặt)

Trong vụ án còn có các bị cáo Đào Duy H3, Phạm Văn H4, Đỗ Văn Đ1, Tăng Thiên V không kháng cáo, không bị kháng nghị và bị hại không kháng cáo Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/8/2023, do có mâu thuẫn qua mạng xã hội Tiktok, Phạm Hữu Tuấn A nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Bùi Xuân P hẹn gặp đánh P. Tối ngày 14/8/2023, P chụp tin nhắn của Phạm Hữu Tuấn A gửi vào nhóm chát “141” trên ứng dụng Messenger gồm có: Đào Duy H3, Phạm Tuấn A, Bùi Đình H, Phạm Văn H4, Đào Hùng D, Tăng Thiên V, Phạm Thanh Q, sinh ngày 16/11/2008, trú tại thôn K, xã T và Vũ Đức Đ2, sinh ngày 05/9/2007, trú tại thôn Đ, xã D với nội dung: “Tao bị thằng này đe đánh”. Sau khi đọc tin nhắn trong nhóm, H3 nhắn tin riêng cho P bảo P hẹn Phạm Hữu Tuấn A đánh nhau. P đồng ý nhưng không nhắn tin cho Phạm Hữu Tuấn A. Trưa ngày 15/8/2023, P gặp và kể cho Phạm Tuấn A việc bị Phạm Hữu Tuấn A đe đánh và nhờ Phạm Tuấn A đánh lại. Phạm Tuấn A đồng ý.

Khoảng 17 giờ ngày 15/8/2023, biết Phạm Hữu Tuấn A đang dự sinh nhật tại nhà chị Trần Thị Tâm L1, sinh năm 2006 ở thôn T, xã S, Phạm Văn H4 nhắn tin trong nhóm chát “141” với nội dung: “Tối nay thằng Phạm Hữu Tuấn A ăn sinh nhật tại xã S”. H3 nhắn lại: “Đánh đi”. Phạm Tuấn A nhắn: “Tối đánh thì tao cầm đồ đi” và hẹn cả nhóm tập trung tại ngã tư thôn Đ, xã S.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, Phạm Hữu Tuấn A đi xe máy Wave 50cc nhãn hiệu Việt Thái, biển kiểm soát 17AA-629.72 đến quán cắt tóc “P” của anh Phạm Đình N1, sinh năm 1993 ở thôn N, xã T chơi. Lúc này H4 cũng đang ở quán cắt tóc nên đã nhắn tin trong nhóm chát “141” với nội dung: “Thằng Phạm Hữu Tuấn A đang ở quán cắt tóc Phạm N1”. Sau đó H4 mượn xe máy của Phạm Hữu Tuấn A đi chỗ khác, mục đích để giữ Phạm Hữu Tuấn A ở lại quán cắt tóc. Trên đường đi, H4 gặp Phạm Tuấn A đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, không gắn biển kiểm soát chở theo H, mục đích đi tìm đánh Phạm Hữu Tuấn A. H4 bảo Phạm Tuấn A và H: “Về lấy đồ, để tao dắt thằng Phạm Hữu Tuấn A đến ngã tư S”. Sau đó H4 quay lại quán cắt tóc “Phạm N1”, còn Phạm Tuấn A chở H về nhà H. H vào phòng ngủ trên tầng 2 của H lấy một túi màu xanh dài 135cm (loại túi đựng đồ đi câu), bên trong túi có: 01 dao dài 65cm, cán bằng gỗ dài 20cm, mũi nhọn, một mặt lưỡi màu trắng (thường gọi là dao mèo); 01 dao dài 115cm, phần cán quấn vải màu đỏ, phần lưỡi dao màu đen dài 58cm (thường gọi là thanh đao); 01 dao màu sáng trắng, dài 55cm, phần cán dao dài 10cm, mũi dao vuông, một mặt lưỡi (thường gọi là phớ); 01 thanh kiếm tự chế, dài 91cm, phần cán quấn băng dính màu đen dài 25cm, mũi nhọn, một mặt lưỡi, đã han rỉ; 01 gậy bóng chày bằng kim loại dài 72cm, sơn màu đỏ. Khi Phạm Tuấn A chở H đến ngã tư S nhưng chưa thấy ai đến nên đã quay về cất giấu túi đựng hung khí ở bụi cỏ gần nhà rồi quay lại ngã tư S.

Lúc này H3 đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 17M6-0788 đến Chợ P, xã D thì gặp Tăng Thiên V đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 17B6-635.60 chở Đào Hùng D; Đỗ Văn Đ1 đi xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 17B3-281.82 chở Trần Đức D3, sinh ngày 06/01/2008, trú tại thôn H, xã T; B, sinh ngày 22/10/2008, trú tại thôn H, xã T đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Neo màu đen - xám, biển kiểm soát 29Y7-8891 chở Phạm Quang Đ3, sinh ngày 04/5/2008, trú tại thôn N, xã T; P, sinh ngày 31/10/2009, trú tại thôn K, xã T đi xe máy biển kiểm soát 17AA-634.31 chở Nguyễn Tiến P1, sinh ngày 15/5/2008, trú tại thôn N, xã T. H3 rủ cả nhóm đi đến ngã tư S gặp đánh Phạm Hữu Tuấn A. Khi đến Trường Trung học phổ thông (THPT) T thì H3 gặp và chở Phạm Thanh Q. Khi cả nhóm đến ngã tư S thì Q bảo Đ1 đi đón H4 ở quán cắt tóc “Phạm N1”; T1 đi đón Phạm Minh D4, sinh ngày 25/10/2006, trú tại thôn N, xã S (T rủ D4 đi chơi). Nhóm H3 ngồi nói chuyện khoảng 05 phút thì Vũ Đức Đ2 đi xe mô tô chở Phạm Đình Q1, sinh ngày 09/11/2007, trú tại thôn V, xã D; sau đó Phạm Tuấn A chở H đến. Q hỏi Phạm Tuấn A: “Anh không mang đồ đi à, anh về lấy đồ lên đây”. Phạm Tuấn A chở H đi lấy túi đựng hung khí rồi quay lại ngã tư S và giấu ở bụi cỏ gần đó. Cả nhóm đợi Phạm Hữu Tuấn A đến. Lúc này, Nguyễn Vương A1, sinh ngày 23/9/2006, trú tại thôn K, xã S đi xe mô tô đi chơi qua ngã tư S, gặp và ngồi chơi cùng với nhóm của H3 (Vương A1 không biết nhóm H3 ngồi đợi, đón đánh Phạm Hữu Tuấn A).

Đỗ Văn Đ1 chở Trần Đức D3 đến quán cắt tóc “Phạm N1” đón H4 rồi cả ba đi đến ngã tư S. Lúc này Phạm Hữu Tuấn A đang đứng trước cửa quán cắt tóc và lấy xe máy để đi về nhà, đi cùng chiều phía sau. Khi thấy Phạm Hữu Tuấn A đến ngã tư S, Đào Hùng D hô: “Thằng Phạm Hữu Tuấn A nó đi qua kìa”. H3 hô: “Nó kìa, đuổi theo”. Phạm Tuấn A chở H cầm theo túi đựng hung khí (H đeo sau lưng), H3 chở Q, Đ1 chở Đ2 và T1, H4 chở V và Đào Hùng D, L2 chở P1 đuổi theo, mục đích đánh Phạm Hữu Tuấn A. Lúc này, ngoại trừ xe H4 chở ba nên đi với tốc độ khoảng 50km/h còn các xe khác đuổi theo Phạm Hữu Tuấn A với tốc độ cao khoảng 78 - 80km/h. Những người còn lại gồm: Trần Đức D3, Phạm Quang Đ3, Phạm Đình Q1 đi về, Nguyễn Vương A1 chở Phạm Minh D4 đi chơi riêng, không tham gia đuổi đánh Phạm Hữu Tuấn A.

Biết bị đánh, Phạm Hữu Tuấn A đi xe máy về phía cầu T, rồi rẽ trái vào trong sân quán ăn đêm “Tuyến Hiền” của chị Vũ Thị H5, sinh năm 1993 ở thôn N, xã S, nấp trong nhà vệ sinh phía sau vườn (cách ngã tư S khoảng 500m). Nhóm H3 dừng trước cửa quán, H để túi đựng hung khí ở đường và mở khóa túi. H3 đi đến cầm 01 dao (dao mèo), H cầm 01 dao (đao), P1 cầm 01 dao (phớ), Q cầm thanh kiếm, Đại nhặt 02 đoạn gậy tre dài khoảng 50cm trước cửa quán rồi những người này chạy vào trong sân tìm Phạm Hữu Tuấn A. Phạm Tuấn A chạy đến giật dao của P1 rồi đi tìm Phạm Hữu Tuấn A. Cả nhóm hô, yêu cầu Phạm Hữu Tuấn A đi ra ngoài để đánh. Chị H5 thấy vậy, đuổi nhóm H3 ra ngoài. Khi quay ra ngoài, thấy xe máy của Phạm Hữu Tuấn A để ở sân, Phạm Tuấn A dùng dao (phớ) đập một nhát vào phần đầu, gần cụm đèn pha “Zhipat” tuy nhiên sau khi nhóm H3 đi Phạm Hữu Tuấn A có đi ra kiểm tra xe chỉ thấy phần đầu xe bị xước xát và cụm đèn xe vẫn hoạt động được bình thường. Nhóm H3 cất hung khí vào trong túi rồi quay lại ngã tư S, sau đó đi lên đê gần Cầu M, thuộc địa phận thôn K, xã T chơi.

Khi ở trên đê thì Nguyễn Vương A1 chở Phạm Minh D4 gặp nhóm H3 và ở lại chơi cùng. Lúc này Q cầm gậy bóng chày trên tay, đứng cách nhóm khoảng 10m, mục đích đón, chặn đầu xe của Phạm Hữu Tuấn A. H giấu túi đựng hung khí tại bụi cỏ. Phạm Tuấn A nói cho H3 biết việc dùng dao (phớ) đập trúng phần đầu xe của Phạm Hữu Tuấn A. Khoảng 10 phút sau, thấy Phạm Hữu Tuấn A đi xe máy đến, Q cầm gậy bóng chày chặn đầu xe của Phạm Hữu Tuấn A, giữa Q và Phạm Hữu Tuấn A xảy ra cãi chửi nhau. Phạm Hữu Tuấn A đang ngồi trên xe thì bị Q cầm gậy bóng chày vụt một nhát (khi vụt Q không có ý vụt vào tay cầm điện thoại của Phạm Hữu Tuấn A), Phạm Hữu Tuấn A giơ tay đang cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 lên đỡ thì bị vụt trúng tay, làm rơi điện thoại xuống mặt đê bê tông; Q cũng làm rơi gậy bóng chày xuống mặt đê. Đào Hùng D và P1 chạy đến dùng tay đánh trúng Phạm Hữu Tuấn A. Phạm Hữu Tuấn A xuống xe bỏ chạy, xe bị đổ xuống mặt đường đê. Phạm Tuấn A, Đào Hùng D, H, Đ1, Q, P1 và Đ3 chạy đuổi theo để đánh. Chạy được khoảng 20m thì Phạm Hữu Tuấn A bị vấp ngã; Đào Hùng D, H, Đ1, Q, P1 và Đ3 đến, dùng tay, chân đấm, đá vào người Phạm Hữu Tuấn A; Phạm Tuấn A đứng bên cạnh, dùng điện thoại quay video. Lúc này Nguyễn Vương A1 đi đến vị trí xe máy của Phạm Hữu Tuấn A, dùng chân phải đạp 02 nhát vào cánh yếm rồi lấy xe chở Phạm Minh D4 đi về trước. Nhìn thấy Nguyễn Vương A1 đạp xe của Phạm Hữu Tuấn A, H3 đi đến dựng xe của Phạm Hữu Tuấn A lên rồi dùng tay phải giật mạnh cụm đèn pha “Zhipat” khiến cụm đèn bị rơi ra. Sau đó sự việc chấm dứt, cả nhóm H3 đi về; còn Phạm Hữu Tuấn A đến Công an xã T sự việc. Hậu quả: Phạm Hữu Tuấn A bị thương (sưng tấy) vùng thái dương bên trái, mắt phải, bắp chân phải, tai phải; điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện T từ ngày 16/8/2023 đến ngày 21/8/2023; chụp cắt lớp vi tính sọ não tại Bệnh viện B ngày 22/8/2023: không thấy tổn thương nội sọ.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 400/KLTTCT-TTPY ngày 02/10/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận về thương tích của Phạm Hữu Tuấn A: “Khám thương tích: vùng đầu không còn sưng nề, bầm tím, không có sẹo; vùng mắt không còn sưng nề, không bầm tím, không tụ máu; mặt sau 1/3 giữa cẳng chân phải có vết sẹo, kích thước (2 x 0,2)cm; xung quanh xây xát, kích thước (4,5 x 4,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của từng thương tích tại thời điểm giám định: mặt sau 1/3 giữa cẳng chân phải có vết sẹo nhỏ: 01%; chấn động não đã điều trị ổn định: 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định: 02%. Thương tích do vật tầy cứng gây nên”.

Bản kết luận định giá số 63/KL-HĐĐGTS ngày 22/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện T kết luận: Về tài sản của Phạm Hữu Tuấn A: chiếc xe máy Wave 50cc nhãn hiệu Việt Thái, biển kiểm soát 17AA-629.72 bị hư hỏng: cụm đèn pha “Zhipat”, vỡ phần ốp nhựa đầu xe, phần ốp nhựa đèn xi nhan bên trái, cánh yếm nhựa bên phải, ốp sườn nhựa bên trái, gây thiệt hại 2.130.000 đồng. Ngày 07/3/2024, Phạm Hữu Tuấn A và người giám hộ có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về hành vi cố ý gây thương tích.

Bản kết luận giám định số 1703/KL-KTHS ngày 05/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh trong 02 tập tin video gửi giám định”.

Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Duy H3 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Tuấn A, Bùi Đình H, Phạm Văn H4, Đào Hùng D, Đỗ Văn Đ1 và Tăng Thiên V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Đình H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58, 91, 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Hùng D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Đào Duy H3, Phạm Văn H4, Đỗ Văn Đ1, Tăng Thiên V, quyết định về trách nhệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo đối với các bị cáo.

Ngày 19/7/2024, bị cáo Đào Hùng D kháng cáo xin hưởng án treo.

Ngày 25/7/2024, các bị cáo Phạm Tuấn A và Bùi Đình H kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã kết luận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo để có cơ hội sửa chữa sai phạm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình về hình phạt đối với các bị cáo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến 20 giờ 30 phút ngày 15/8/2023, các bị cáo Phạm Tuấn A, Bùi Đình H, Đào Hùng D cùng Đào Duy H3, Phạm Văn H4, Đỗ Văn Đ1, Tăng Thiên V và một số đối tượng dưới 16 tuổi tụ tập, điều khiển xe mô tô với tận tốc cao gây nguy hiểm cho những người tham gia giao thông, mang theo hung khí đuổi đánh Phạm Hữu Tuấn A, sinh ngày 11/12/2007 (15 tuổi 8 tháng 4 ngày) trên đoạn đường dài khoảng 500m, từ ngã tư S đến quán ăn Đ4, thuộc thôn N, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình; sau đó tiếp tục chặn đường, đánh anh Phạm Hữu Tuấn A ở trên đê, thuộc địa phận thôn K, xã T. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước, gây xáo trộn cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng dân cư được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và việc thực hiện những đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước trong quá trình ổn định đời sống của người dân. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo Phạm Tuấn A, Bùi Đình H và Đào Hùng D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo thấy:

[2.1] Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[2.2] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo H có ông nội được tặng huân chương chiến sĩ giải phóng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Tuấn A, H chuẩn bị hung khí, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò tích cực, bị cáo H đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo D đã bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và xử phạt: bị cáo Phạm Tuấn A 01 năm 09 tháng tù, bị cáo Bùi Đình H 02 năm tù, bị cáo Đào Hùng D 01 năm 06 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác làm thay đổi tình tiết, nội dung vụ án và xem xét chuyển biện pháp chấp hành hình phạt cho các bị cáo.

[3] Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Phạm Tuấn A, Bùi Đình H, Đào Hùng D, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Phạm Tuấn A, Bùi Đình H, Đào Hùng D không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Tuấn A, Bùi Đình H, Đào Hùng D, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 97/2024/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.
    2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Đình H 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.
    3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, các Điều 17, 38, 50, 58, 91, 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Hùng D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tổng hợp với hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 13/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/10/2024.
  3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 15/10/2024./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - CA, VKS, TA, CCTHADS h. Thái Thụy;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-PT ngày 15/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 86/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger