Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 86/2024/HS-ST

Ngày 15-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Ông Đoàn Quốc Việt

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn K, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K1 và bà Phạm Thị T; có vợ là Lâm Thị Q; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17-5-2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Phạm Phú T1, sinh năm 1945 (đã chết)

- Những người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1952, là vợ bị hại; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng
  • + Anh Phạm Phú T3, sinh năm 1978, là con đẻ bị hại; nơi cư trú: Số I ngõ G Đ, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng.
  • + Anh Phạm Hùng T4, sinh năm 1981, là con đẻ bị hại; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng
  • + Chị Phạm Thị T5, sinh năm 1984, là con đẻ của bị hại; nơi cư trú: Khu K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng

Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Phạm Phú T3; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • - Anh Phạm Tuấn A, vắng mặt;
  • - Ông Vũ Quang T6, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 29-12-2023, Trần Văn K đi liên hoan và uống bia tại nhà hàng trên địa phận huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau đó, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 15K1-009.76 chở phía sau là anh Phạm Tuấn A đi theo hướng từ thành phố Hải Phòng đi trên đường quốc lộ 10 để về nhà ở huyện V. Đến khoảng 13 giờ 55 phút ngày 29-12-2023, khi đi đến khu vực cổng trường Trung học phổ thông T8, K điều khiển xe mô tô đi trên làn đường trong cùng bên phải theo hướng đi của mình. Do trước đó đã sử dụng rượu, bia nên K không tỉnh táo, không quan sát từ xa, khi còn cách khoảng 02 mét Khiêm mới phát hiện thấy ông Phạm Phú T1 điều khiển xe mô tô đi ngược chiều trên làn đường mà K đi. Lúc này khoảng cách giữa hai phương tiện quá gần nên K không kịp đánh lái để tránh, chỉ nhấn phanh sau nhưng vẫn đâm vào đầu xe mô tô của ông T1. Hậu quả, ông T1 tử vong tử vong tại hiện trường, còn K bị thương nên được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ - V.

Khám nghiệm hiện trường, xác định: Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại điểm mở Km 47+600 trên Quốc lộ A thuộc địa phận thôn A, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng. Mép chuẩn là mép đường bên phải theo chiều từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình. Điểm mốc là cột biển báo hiệu số 102 cấm đi ngược chiều tại điểm mở. Tại hiện trường vị trí, chiều hướng của các dấu vết và phương tiện như sau: vết phanh liền nét dài 2,4 mét, rộng 0,03 mét, nằm ở trong làn đường III, hướng từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình. Đầu vết phanh cách mép đường chuẩn 0,5 mét, cách điểm mốc 12,8 mét, cách đầu vết xước I là 1,9 mét, cách điểm cuối góc mở lối vào cổng trường Trung học phổ thông T8 01 mét. Điểm cuối vết phanh cách mép đường chuẩn 0,7 mét. Vết xước I liền nét, dài 1,3 mét, rộng 0,02 mét, hướng từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình. Điểm đầu vết xước cách mép đường chuẩn 1,05 mét, cách đầu vết xước II 0,75 mét; điểm cuối vết xước cách mép đường chuẩn 0,9 mét. Vết xước II đứt nét, dài 2,45 mét, rộng 0,02 mét, nằm trên vạch sơn đứt nét trong cùng bên phải, hướng từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình. Điểm đầu vết xước cách mép đường chuẩn 1,85 mét, cách đầu vết xước III 0,9 mét; điểm cuối vết xước trùng với vị trí đầu cần gương bên phải xe mô tô biển kiểm soát: 16K2-4260, cách mép đường chuẩn 1,85 mét. Vết xước III liền nét, dài 2,5 mét, rộng 0,02 mét, hướng từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình, chếch một góc khoảng 15 độ hướng sang lề đường bên trái. Đầu vết xước, cách mép đường chuẩn 1,1 mét, cách đầu vết xước IV 0,7 mét; điểm cuối vết xước trùng với điểm đầu bàn để chân phía trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát: 16K2-4260, cách mép đường chuẩn 02 mét. Vết xước IV liền nét, dài 1,7 mét, rộng 0,1 mét, hướng từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình, chếch một góc khoảng 45 độ hướng sang lề đường bên trái. Điểm đầu vết xước cách mép đường chuẩn 1,6 mét, điểm cuối vết xước trùng với vị trí đèn xi nhan bên phải của xe mô tô biển kiểm soát: 16K2-4260, cách mép đường chuẩn 2,8 mét. Vết xước V liền nét, dài 0,4 mét, rộng 0,02 mét, hướng từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình, đầu vết xước cách mép đường chuẩn 1,6 mét, cuối vết xước trùng với vị trí bàn để chân trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát: 15K1-009.76, cách mép đường chuẩn là 1,6 mét. Xe mô tô biển kiểm soát: 16K2-4260 nằm ngang trên vạch sơn trắng đứt nét phân làn II và III. Xe bị đổ nghiêng bên tay lái phải, đầu xe hướng thành phố Hải Phòng, chếch vào lề đường bên phải; đuôi xe hướng tỉnh Thái Bình, chếch sang lề đường bên trái. T7 bánh trước cách mép đường chuẩn 1,4 mét, cách đầu vết xước V 0,8 mét; tâm bánh sau cách mép đường chuẩn 2,5 mét, cách đầu ngón chân bên phải nạn nhân 0,9 mét, cách tâm bánh trước xe mô tô biển kiểm soát: 15K1-009.76 là 0,4 mét. Xe mô tô biển kiểm soát: 15K1-009.76 bị đổ nghiêng bên tay lái phải, có chiều hướng ngược lại với chiều hướng đổ của xe mô tô biển kiểm soát: 16K2-4260, bánh trước nằm tại làn II, ở dưới bánh sau xe mô tô biển kiểm soát: 16K2-4260, tâm bánh trước cách mép đường chuẩn 02 mét, tâm bánh sau cách mép đường chuẩn 1,2 mét. Vị trí nạn nhân ông Phạm Phú T1, nằm ở L, nằm nghiêng bên phải, đầu hướng đi tỉnh Thái Bình, chân hướng về thành phố Hải Phòng, đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn 3,2 mét; ngón cái bàn chân phải vài mép đường chuẩn 2,8 mét. Vùng mảnh vỡ kích thước 4x2 mét, gồm nhiều mảnh nhựa vỡ nhỏ nằm rải rác xung quanh hiện trường, từ vị trí đầu vết xước III đến vị trí xe mô tô biển kiểm soát: 15K1-009.76.

Tại bản kết luận giám định số 426/KL-KTHS ngày 31-01-2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: “Dấu vết cong vênh, vỡ khuyết kim loại, mài trượt cao su màu đen, mất tạp chất bẩn màu trắng, bám dính tạp chất màu bạc (dạng sơn) theo chiều từ ngoài vào tâm tại vành và mặt lăn bánh xe phía trước trên xe mô tô mag biển kiểm soát 15K1-009.76, xe do Trần Văn K điều khiển (Ảnh 5,6,7: Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết dập khuyết, cong vênh, xô lệch kim loại, bề mặt trượt xước mất sơn màu bạc, bám dính tạp chất màu trắng (dạng chất bẩn), màu đen (dạng cao su) theo chiều từ trước về sau tại bên trái lốc máy và cần số liền kề trên xe mô tô mang biển kiểm soát 16K2-4260, xe do ông Phạm Phú T1 điều khiển (Ảnh 12,13:Bản ảnh giám định). Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động ngược chiều va chạm với nhau. Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe mô tô mang biển kiểm soát 15K1-009.76 và xe mô tô mang biển kiểm soát 16K2-4260 tại thời điểm xảy ra va chạm giao thông.”

Tại biên bản khám nghiệm tử thi ông Phạm Phú T1 ghi nhận các dấu vết, tổn thương trên cơ thể như sau: “vùng chẩm bên phải xây xước trợt da nền tổn thương màu đỏ trên diện 06x05cm, xung quanh bầm tím tụ máu. Vùng trán trái sát chân lông mày trái xây xước trợt da kích thước 02x0,5cm. Vùng mu các ngón 4,5 bàn tay trái xây xước trợt da trên diện 04x01cm. Từ đầu gối trái đến vùng 1/3 dưới cẳng chân trái xây xước trợt da trên diện 25x06cm. Dập vỡ phức tạp xương họp sọ vùng châm phải”

Tại bản kết luận giám định tử thi số 283B/KL-KTHS ngày 25-01-2024 của Phòng K2 Công an thành phố H đối với ông Phạm Phú T1 kết luận: “Về thương tích: Thương tích trên tử thi có đặc điểm hình thành do vật tày tác động. Nồng độ cồn, chất kích thích trong máu: Không có. Nguyên nhân chết: Sốc do chấn thương sọ não."

Tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể số 377/KLTTCT- TTPYHP ngày 22-5-2024 của Trung tâm P kết luận: “tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn K tại thời điểm giám định là: 57%"

Tại bản kết luận số 283/KL-KTHS ngày 25-01-2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: “Trong mẫu máu của Trần Văn K không tìm thấy các chất kích thích và trấn áp thần kinh thường gặp”.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu tại Bệnh viện Đ - Vĩnh Bảo ngày 29-12-2023 của Trần Văn K là 331.08 mmo/l.

Tại Công văn số 119/ĐKQTVB ngày 22-4-2024 của Bệnh viện Đ – Vĩnh Bảo thể hiện: “Trần Văn K có kết quả xét nghiệm định lượng Alcol etanol là 331.08 mmo/1 tương ứng với 1525,61664 mg/dl tương ứng với 1525,61664 mg/100ml hay 15,2561664 mg/dl. Như vậy chỉ số Alcol etanol trong máu của Trần Văn K cao hơn giới hạn bình thường"

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường về trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại, gia đình ông T1 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho K.

Vật chứng: 01 xe ô tô biển kiểm soát: 16K2-4260 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Phú T1 Cơ quan điều tra đã trả lại cho cho người đại diện hợp pháp của ông T1 là anh Phạm Phú T3; 01 xe ô tô biển kiểm soát: 15K1-009.76 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn H là tài sản hợp pháp của Trần Văn K Cơ quan điều tra đã trả lại cho K; 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng A1 mang tên Trần Văn K chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.

Tại Bản cáo trạng số: 84/CT-VKS ngày 11-10-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã truy tố Trần Văn K về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn trình bày xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn K 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", thời gian thử thách đối với bị cáo là 60 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn K. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 55 phút ngày 29-12-2023, Trần Văn K có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô 15K1-009.76 trong máu có nồng độ cồn đi trên Quốc lộ A thuộc địa phận thôn A, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua khu vực có trường học và tránh xe đi ngược chiều đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát: 16K2-4260 do ông Phạm Phú T1 điều khiển đi theo hướng ngược lại, hậu quả làm ông T1 tử vong tại chỗ. Bị cáo đã vi phạm khoản khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, khoản 5, 8 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, gây tai nạn làm ông Phạm Phú T1 chết.

    “Điều 12. Tốc độ và khoảng cách giữa các xe

    1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường ...”

    Khoản 5,8 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định:

    “Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

    Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

    “5. Qua khu vực có trường học; ...”

    8. Tránh xe chạy ngược chiều; ..."

    1. [2.1] Bị cáo có giấy phép lái xe phù hợp với phương tiện do bị cáo điều khiển, nhưng không tuân thủ nguyên tắc chung khi tham gia giao thông đường bộ, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua khu vực có trường học và tránh xe đi ngược chiều nên đã gây tai nạn giao thông, hậu quả làm ông T1 tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
    2. [2.2] Về tình tiết định khung: Thời điểm gây tai nạn bị cáo trong tình trạng có sử dụng rượu, trong hơi thở có nồng độ cồn đã vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, vi phạm Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
  3. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn K thành khẩn khai báo, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, những người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại là ông Phạm Phú T1 cũng có một phần lỗi do điều khiển xe mô tô đi ngược chiều; sau khi xảy ra tai nạn, K bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 57% nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Lỗi của bị cáo là lỗi vô ý; gia đình bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại cũng có một phần lỗi. Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự); bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
  6. [6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  7. [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình ông Phạm Phú T1 thoả thuận xong về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  8. [8] Về xử lý vật chứng: 01 xe ô tô biển kiểm soát 16K2-4260 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Phú T1 Cơ quan điều tra đã trả lại cho cho người đại diện hợp pháp của ông T1 là anh Phạm Phú T3; 01 xe ô tô biển kiểm soát 15K1-009.76 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn H là tài sản hợp pháp của Trần Văn K Cơ quan điều tra đã trả lại cho K; 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng A1 mang tên Trần Văn K là giấy tờ tùy thân hợp pháp của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.
  9. [10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
  10. [11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

    Xử phạt Trần Văn K 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự: Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

    Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

    Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Văn K (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-10-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng (PV06, PC10);
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo;
  • - UBND xã Việt Tiên, huyện Vĩnh Bảo;
  • - Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 86/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn K - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger