Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Ý YÊN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/HS-ST

Ngày: 24-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tiến Mãn.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Dung; ông Nguyễn Xuân Định.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Nhung - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST - HS, ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/HSST - QĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Viết T - Sinh năm 2005; nơi cư trú: Xóm A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị T1; chưa có vợ và con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 134/QĐ-XPHC, ngày 21/12/2023 của Công an huyện Ý Yên tỉnh N xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 6.500.000₫ về hành vi cố ý gây thương tích; bị bắt tạm giam từ ngày 18/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
  2. Họ và tên: Bùi Ngọc B - Sinh năm 2005; nơi cư trú: Xóm A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc L (đã chết) và bà Đỗ Thị M; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 18/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
  3. Bị hại: Anh Đỗ Huy H - Sinh năm 2000. Địa chỉ: Xóm B, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
  4. Người làm chứng: Anh Ngô Xuân S, ông Đỗ Ngọc D, anh Đỗ Khánh D1, bà Đỗ Thị M, ông Đỗ Văn D2, ông Nguyễn Văn K.

Tại phiên tòa có mặt các bị cáo và người làm chứng là ông K, ông D1, bà M; vắng mặt bị hại và người làm chứng là anh S, ông D, ông D2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phỳt ngày 08/4/2024, Nguyễn Viết T và Bựi Ngọc B đến nhà anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1999 trỳ tại thụn H, xó Y, í Y Nam Định để dự sinh nhật anh S1. Tại đõy T và B gặp và cựng ngồi ăn uống với anh Đỗ Huy H, sinh năm 2000 trỳ tại xúm B, xó Y, huyện í, tỉnh Nam Định. Trong lỳc ăn cơm, uống bia, rượu H nhiều lần rủ T, B đi chơi nhưng T, B từ chối, H vẫn tiếp tục rủ T, Biển nhiều lần dẫn đến H, T, B xảy mõu thuõn, cói chửi nhau. Sau đú, B chở T đi về nhà T, B cũng về nhà ngủ cũn H ở lại nhà S1. Do bức xỳc với H về việc bị Hoàng C nờn T cú nhắn tin cho H núi “Nóy mày vừa núi cỏi gỡ đấy? ĐM mày, tao T Kiệm đõy”, H điện thoại lại cho T núi “Mày thớch thế nào lờn cõy xăng gặp tao núi chuyện”, T núi “Đợi tao”. Sau đú T gọi cho B núi qua nhà đún T đi gặp H, khoảng 15 phỳt sau B đi xe mụ tụ đến đún T để đi đến cõy xăng tại xúm A, xó Y, huyện í để gặp H. Trờn đường đi gần đến Miếu ụng N, xó Y, huyện í thỡ T núi với B “Mày dừng lại để tao vào Miếu lấy kiếm theo đề phũng thằng H gọi người đỏnh”. Biển nghe T núi vậy nờn khi đi đến ngó 3 đường vào Miếu thỡ dừng xe cho T đi vào Miếu lấy 01 chiếc kiếm bằng sắt dài khoảng 01 một, bề rộng khoảng 04 cm cú vỏ bằng gỗ mà T cất giấu phớa sau miếu từ trước. T cầm kiếm ra rồi để dọc theo phần thõn xe của B. Sau đú cả hai tiếp tục đi, khi đến khu vực cõy xăng xúm A, xó Y; Biển dừng xe ở phớa bờn kia đường đối diện cõy xăng, cỏch Quốc lộ C khoảng 10m, Biển ngồi trờn xe, T xuống đứng cạnh xe. Ngay lỳc này S1 cũng chở H đến, dừng xe ở khu vực giữa ngó 3 Quốc lộ C và đường P; vị trớ H và T đứng cỏch nhau khoảng 10m. T, H đi về phớa nhau, B thấy vậy cũng đi theo sau, khi T và H đến cỏch nhau khoảng 01m, cú lời qua tiếng lại thỡ H đấm 01 cỏi về phớa T, T trỏnh được; H dựng chõn đạp 1 cỏi trỳng vào bụng T, T chạy quay lại chỗ xe mụtụ rỳt kiếm dắt ở xe Biển, lỳc này H vẫn chạy đuổi theo về phớa T, T cầm kiếm bằng tay phải quay người lại chộm nhiều nhỏt về phớa H. Cựng lỳc, B đứng sau T, dựng tay trỏi bỏm vào bả vai T kộo lại phớa sau, B dựng chõn đạp một cỏi vào hụng của H và dựng tay trỏi đẩy H ngó ngồi xuống đường. Thấy vậy, S1 can ngăn hai bờn, B chở T về, sau đú thấy H bị thương ở vựng đầu phớa tai trỏi, mu bàn tay trỏi, đầu gối trỏi nờn S1 đó gọi xe taxi đưa H đi

Bệnh viện đa khoa tỉnh N cấp cứu sau đú chuyển lờn Bệnh viện H1, Hà Nội điều trị đến ngày 17/4/2024 thỡ xuất viện.

Tại Kết luận giỏm định tổn thương cơ thể trờn người sống số 069/KLTTCT-TTPY, ngày 6/6/2024 của Trung tõm phỏp y thuộc Sở Y tế tỉnh N kết luận:

1. Cỏc kết quả chớnh:

1.1 Kết quả khám giám định.

Sẹo vết thương Thái dương - chẩm trái; Sẹo vết thương vành tai trái; Sẹo vết thương mu bàn tay trái; Sẹo vết thương ngón III tay trái; Sẹo vết thương gối trái;

Đứt gõn duỗi ngún II, ngún III tay trỏi, đó khõu nối.

Vết thay đổi sắc tố da thắt lưng trỏi. Khụng xếp tỷ lệ (Do khụng cú trong hồ sơ y tế).

1.2 Kết quả khỏm chuyờn khoa.

Chấn thương: Sẹo vết thương (Thỏi dương trỏi, vành tai trỏi, bàn tay trỏi, ngún III tay trỏi, gối trỏi), cỏc sẹo liền tốt. Vết thay đổi sắc tố da lưng trỏi.

Thần kinh: Sẹo vết thương (Thỏi dương trỏi, vành tai trỏi, bàn tay trỏi, ngún III tay trỏi, gối trỏi), cỏc sẹo liền tốt. Vết thay đổi sắc tố da lưng trỏi.

1.3 Kết quả cận lõm sàng.

CT sọ nóo: Thỏi dương trỏi cú mảnh xương rời.

XQ bàn tay trỏi: Góy xương bàn ngún II.

XQ gối trỏi: Khụng tổn thương xương, khớp.

Siờu õm D3 mạch tay trỏi: Khụng thấy hỡnh ảnh hẹp, tắc động tĩnh mạch.

Điện nóo đồ: Khụng thấy hỡnh ảnh súng bệnh lý.

1.4 Kết quả khỏc. Khụng cú.

2. Kết luận: Căn cứ Thụng tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 thỏng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giỏm định phỏp Y, giỏm định phỏp y tõm thần, xỏc định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Huy H sinh năm 2000 tại thời điểm giỏm định là 20%, ỏp dụng phương phỏp cộng tại Thụng tư.

3. Kết luận khỏc: Cơ chế hỡnh thành thương tớch, tổn thương do vật sắc trực tiếp gõy nờn.

Đối với Đỗ Huy H đó cú hành vi đấm, đạp vào người Nguyễn Viết T nhưng khụng để lại thương tớch gỡ, T khụng đề nghị gỡ vỡ vậy Cụng an huyện í đó ra quyết định xử phạt vi phạm hành chớnh đối với Đỗ Huy H.

Vật chứng vụ ỏn: Thu giữ 01 chiếc kiếm bằng kim loại dài khoảng 1m, bề rộng khoảng 0,4cm cú vỏ bằng gỗ, màu đen.

Về trỏch nhiệm dõn sự: Nguyễn Viết T và Bựi Ngọc B đó tự nguyện bồi thường tổn hại sức khoẻ, tinh thần, chi phớ điều trị cho anh Đỗ Huy H tổng số tiền là 150.000.000đ, anh H và gia đỡnh đó nhận đủ và khụng cú yờu cầu gỡ thờm, đồng thời cú đơn xin giảm nhẹ hỡnh phạt cho cỏc bị cảo.

Bản Cáo trạng số 79/CT-VKS-YY, ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo Nguyễn Viết T và Bùi Ngọc B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng số số 79/CT-VKS-YY, ngày 01/10/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Viết T và Bùi Ngọc B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Ngọc B từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc kiếm bằng kim loại dài khoảng 01m, bề rộng khoảng 0,4cm cú vỏ bằng gỗ.

Trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường 150.000.000đ cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Các bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi của mình bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng quy định của pháp luật; các bị cáo ăn năn hối hận, hứa sẽ không vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, các tài liệu về hiện trường, thương tích, giám định tỷ lệ thương tích của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước nên khoảng 22 giờ 30 phỳt, tại khu vực cõy xăng thuộc xúm A, xó Y, huyện í, tỉnh Nam Định. Bị cỏo Nguyễn Viết T cú hành vi dựng kiếm chộm nhiều nhỏt vào người anh Đỗ Huy H; bị cỏo Bựi Ngọc B cú hành vi dựng chõn đạp vào hụng, dựng tay trỏi đẩy vào người làm anh H ngó xuống đường; hành vi của cỏc bị cỏo đó gõy thương tớch cho anh Đỗ Huy H với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 20%.

[3] Hành vi dùng kiếm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 20% của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố là đúng pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà mình đã gây ra.

[4] Đây là vụ án có đồng phạm, trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể nên xác định là đồng phạm giản đơn. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy, các bị cáo đều là người thực hành tuy nhiên bị cáo Nguyễn Viết T là người cầm kiếm chém anh H nên có vai trò cao hơn bị cáo Bùi Ngọc B.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; ông bà các bị cáo là người có công với cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, để xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng đối với các bị cáo.

[6] Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo.

[7] Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo cùng gia đình đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc kiếm bằng kim loại dài khoảng 01m, bề rộng khoảng 0,4cm cú vỏ bằng gỗ.

[9] Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Viết T và Bùi Ngọc B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

    - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc B 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc kiếm bằng kim loại dài khoảng 01m, bề rộng khoảng 0,4cm cú vỏ bằng gỗ (theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 09/10/2024 giữa Công an huyện Ý với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên tỉnh Nam Định).
  3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo Nguyễn Viết T và Bùi Ngọc B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Phòng lưu trữ CA tỉnh Nam Định;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự;
  • - UBND xã Yên Nhân;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu: VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Vũ Tiến Mãn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 86/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/4/2024, Nguyễn Viết T và Bùi Ngọc B đến nhà anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1999 trú tại thôn H, xã Y, Ý Y Nam Định để dự sinh nhật anh S1. Tại đây T và B gặp và cùng ngồi ăn uống với anh Đỗ Huy H, sinh năm 2000 trú tại xóm B, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Trong lúc ăn cơm, uống bia, rượu H nhiều lần rủ T, B đi chơi nhưng T, B từ chối, H vẫn tiếp tục rủ T, Biển nhiều lần dẫn đến H, T, B xảy mâu thuân, cãi chửi nhau. Sau đó, B chở T đi về nhà T, B cũng về nhà ngủ còn H ở lại nhà S1. Do bức xúc với H về việc bị Hoàng C nên T có nhắn tin cho H nói “Nãy mày vừa nói cái gì đấy? ĐM mày, tao T Kiệm đây”, H điện thoại lại cho T nói “Mày thích thế nào lên cây xăng gặp tao nói chuyện”, T nói “Đợi tao”. Sau đó T gọi cho B nói qua nhà đón T đi gặp H, khoảng 15 phút sau B đi xe mô tô đến đón T để đi đến cây xăng tại xóm A, xã Y, huyện Ý để gặp H. Trên đường đi gần đến Miếu ông N, xã Y, huyện Ý thì T nói với B “Mày dừng lại để tao vào Miếu lấy kiếm theo đề phòng thằng H gọi người đánh”. Biển nghe T nói vậy nên khi đi đến ngã 3 đường vào Miếu thì dừng xe cho T đi vào Miếu lấy 01 chiếc kiếm bằng sắt dài khoảng 01 mét, bề rộng khoảng 04 cm có vỏ bằng gỗ mà T cất giấu phía sau miếu từ trước. T cầm kiếm ra rồi để dọc theo phần thân xe của B. Sau đó cả hai tiếp tục đi, khi đến khu vực cây xăng xóm A, xã Y; Biển dừng xe ở phía bên kia đường đối diện cây xăng, cách Quốc lộ C khoảng 10m, Biển ngồi trên xe, T xuống đứng cạnh xe. Ngay lúc này S1 cũng chở H đến, dừng xe ở khu vực giữa ngã 3 Quốc lộ C và đường P; vị trí H và T đứng cách nhau khoảng 10m. T, H đi về phía nhau, B thấy vậy cũng đi theo sau, khi T và H đến cách nhau khoảng 01m, có lời qua tiếng lại thì H đấm 01 cái về phía T, T tránh được; H dùng chân đạp 1 cái trúng vào bụng T, T chạy quay lại chỗ xe môtô rút kiếm dắt ở xe Biển, lúc này H vẫn chạy đuổi theo về phía T, T cầm kiếm bằng tay phải quay người lại chém nhiều nhát về phía H. Cùng lúc, B đứng sau T, dùng tay trái bám vào bả vai T kéo lại phía sau, B dùng chân đạp một cái vào hông của H và dùng tay trái đẩy H ngã ngồi xuống đường. Thấy vậy, S1 can ngăn hai bên, B chở T về, sau đó thấy H bị thương ở vùng đầu phía tai trái, mu bàn tay trái, đầu gối trái nên S1 đã gọi xe taxi đưa H đi Bệnh viện đa khoa tỉnh N cấp cứu sau đó chuyển lên Bệnh viện H1, Hà Nội điều trị đến ngày 17/4/2024 thì xuất viện.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger